Trình bày sự khác nhau giữa văn học dân gian và văn học viết

Nêu những điểm phân biệt văn học dân gian với văn học viết.

Phân biệt Văn học dân gian và Văn Học viết

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (116.36 KB, 19 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN

BÀI TÍCH LŨY ĐIỂM CÁ NHÂN
MÔN: VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM

PHÂN BIỆT VĂN HỌC DÂN GIAN VỚI VĂN HỌC VIẾT

Họ và tên: NGUYỄN MINH DƯƠNG.
MSSV: 41.01.601.019.
Ca Học: sáng thứ sáu, ca 2. Nhóm: 6
Ngày sinh: 05/05/1997.

1


MỞ ĐẦU:
Trong dòng chảy miên viễn của nền văn học Việt Nam, chúng ta thấy rằng
đó là sự tích hợp giữa hai dòng văn học: văn học dân gian và văn học viết. Phân
biệt được hai dòng văn học này là vấn đề cơ bản của lịch sử văn học dân tộc. Bởi
lẽ, nó không chỉ có hai phương thức sáng tác khác nhau, truyền miệng và thành
văn, mà còn liên quan đến hai loại hình tác giả có vị trí xã hội, hoàn cảnh sinh
sống, quan niệm nhân sinh, tư tưởng tình cảm, kể cả hoàn cảnh sáng tác, tâm thế
sáng tác, động cơ sáng tác cũng khác nhau. Đồng thời, hai bộ phận này cũng có
quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong phạm vi bài viết này, chúng ta sẽ cùng đi sâu,
định ra được những nét khác nhau và thấy rõ được mối quan hệ khăng khít giữa
chúng.

2



NỘI DUNG CHÍNH:
1.

Định nghĩa văn học dân gian và văn học viết:
Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động,

nó phản ánh sinh hoạt xã hội, đời sống tâm lí, tình cảm, thái độ, nguyện vọng, kinh
nghiệm mọi mặt của nhân dân lao động các thế hệ, ra đời từ thời kì công xã
nguyên thủy, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai
cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay. Có ba thuật ngữ được xem là tương
đương khi nói về vấn đề này: văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng
của nhân dân, folklore ngôn từ ( folklore văn học ).
Khác với văn học dân gian, văn học viết hình thành đã “ mở ra một thời kì
lịch sử mới, oanh liệt, rực rỡ” ( Đặng Thai Mai ). Dòng văn học này được sáng tác
bằng chữ viết, được sáng tác bởi cá nhân hoặc nhóm tác giả. Văn học viết còn có
tên gọi khác là văn học thành văn.
2.

Điểm giống nhau giữa văn học dân gian và văn học viết:
Giữa văn học dân gian và văn học viết chúng ta thấy có một số điểm giống

nhau như: đều do con người lao động trí óc sáng tạo nên, cả hai đều lấy tư liệu từ
cuộc sống và mang những nội dung cụ thể nhất định. Về nội dung: cả văn học dân
gian và văn học viết đều phản ánh thực trạng xã hội, thể hiện mong ước của con
người. Xét trên phương diện thể loại, hai bộ phận này có thể được sáng tác dưới
dạng văn xuôi hoặc thơ.
Bên cạnh đó, chúng cùng sử dụng ngôn từ như phương tiện quan trọng
nhất để sáng tạo hình tượng nghệ thuật, cùng thể hiện tư tưởng, quan niệm, thái
độ, tình cảm của tác giả qua những hình tượng nghệ thuật đó. Hơn nữa, chúng
cùng tác động đến thực tiễn, có tác dụng cải biến thực tiễn…

3


3.

Phân biệt văn học dân gian và văn học viết:
Bên cạnh những điểm gặp gỡ chung giữa văn học dân gian và văn học viết

thì chúng còn có rất nhiều điểm khác nhau, thậm chí những khác biệt đó mang
tính bản chất. Để rõ ràng và xác đáng chúng ta sẽ lần lượt soi chiếu chúng ở bốn
phương diện chủ yếu sau: lực lượng sáng tác, phương thức sáng tác và lưu truyền,
nội dung phản ánh và thủ pháp nghệ thuật.
a. Về lực lượng sáng tác:
Chủ nhân của văn học dân gian phần lớn là người nông dân nhưng cũng có
những người trí thức với tư cách là một cộng đồng dân tộc. Họ sáng tác các tác
phẩm nhằm phục vụ cho sinh hoạt sản xuất. Sau những giờ lao động nhọc mệt,
vất vả, những tác phẩm văn học dân gian được thành hình nhằm làm khuây khỏa
nỗi lo cơm áo và giúp tinh thần họ thoải mái hơn, từ đó mà việc sản xuất trở nên
có hiệu quả, đời sống vui tươi, lành mạnh. Do đặc trưng về lực lượng sáng tác
phần lớn là nhân dân lao động nên tính quê mùa, chất phác là điều hiện hữu rõ
nét nhất. những con người ấy sống tự do như chim trời, bình dị, dân dã, lạc quan,
yêu đời. Tất cả điều đó họ đưa vào sáng tác một cách tự nhiên, chân thật nhất
như nó vốn tồn tại:
“Trời mưa
Quả dưa vẹo vọ
Con ốc nằm co
Con tôm đánh đáo
Con cò kiếm ăn”.
Hay:
“Rủ nhau đi cấy, đi cày

Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”.
Đối với văn học viết, lực lượng sáng tác chủ yếu là trí thức, những người
biết chữ nghĩa và ít nhiều có sự tiếp xúc với văn hóa, có trình độ nhất định. Chẳng
hạn như Nguyễn Du (1965-1820) là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế
4


giới, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lỗi lạc có “ con mắt trông khắp sáu cõi và tấm
lòng nghĩ suốt nghìn đời” ( Mộng Liên Đường chủ nhân ). Ông sinh ra trong một
gia đình có nhiều đời và nhiều người làm quan to dưới triều Lê- Trịnh. Thời thơ ấu
Nguyễn Du sống trong nhung lụa tại đất Thăng Long. Lên mười tuổi, cuộc đời ông
gặp những sóng gió khi mồ côi cả cha lẫn mẹ trong cơn biến ba đào. Hai mươi
năm chìm nổi, long đong ngoài đất Bắc, ông tiếp xúc với những thân phận dưới
đáy xã hội. tài năng, tri thức và sự lăn lộn trong cuộc đời đã hun đúc nên một
thiên tài như Nguyễn Du. Đó còn là Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình nhà
nho yêu nước, hay là Nguyễn Tuân, Tố Hữu… Họ viết văn nhằm thưởng thức nghệ
thuật, nhằm thỏa mãn chí nguyện của mình, hướng đến chân-thiện-mĩ. Bên cạnh
đó, một bộ phận trí thức phải chịu cảnh “ áo cơm ghì sát đất”, “ ăn bữa nay, lo
bữa mai”… nên văn chương với họ là phương tiện kiếm sống, là kế sinh nhai. Dù
sáng tác với lí do gì, thì trí thức vẫn là một tầng lớp có hiểu biết trong xã hội, có
trình độ tương đối nên các “ đứa con tinh thần” của họ khá cao nhã, thể hiện rõ
trí tuệ, tài năng của người cầm bút.
Lực lượng sáng tác của văn học dân gian và văn học viết là hai giai cấp, tầng
lớp khác nhau. Vì thế, nó chi phối đặc điểm của sáng tác, thể hiện nét riêng, độc
đáo của mỗi dòng văn học.
b. Về phương thức sáng tác và lưu truyền:
Phương thức sáng tác của văn học dân gian là ngôn ngữ nói. Đó là thứ ngôn
ngữ âm thanh, dùng trong giao tiếp tự nhiên hằng ngày; trong đó người nói người

nghe tiếp xúc trực tiếp với nhau, có thể thay phiên nhau trong vai nói và vai nghe.
Do đó, mọi tình cảm, cảm xúc trở nên chân thật, tự nhiên, tạo sự linh hoạt, sống
động trong sáng tác. Phương thức lưu truyền của văn học dân gian là truyền
miệng bởi trong điều kiện một dân tộc chưa có chữ viết thì không thể có một
phương thức tồn tại và phát triển nào khác. Chu Xuân Diên đã nói về phương thức
5


này như sau: “ Phương thức truyền miệng là một đặc trưng của sản xuất nghệ
thuật, hình thức này có những nguyên tắc thuộc về thủ pháp và trí nhớ, những
thủ pháp này đã trở thành truyền thống và giúp cho nhân dân “ nhập tâm” được
một số lượng khá lớn tác phẩm khác nhau hoặc những tác phẩm đôi khi có chủ đề
hết sức phức tạp”.
Văn học dân gian là một loại văn học sinh hoạt, nên môi trường hội hè, đình
đám là đặc trưng nhất. nó tạo nên một nét “không khí” thẩm mĩ riêng biệt mà chỉ
văn học dân gian mới có. Chúng ta bắt gặp những buổi nghe hát ca dao qua các
điệu hò mái nhì vút lên trên sông Hương, hay tham dự vào những “đêm hát ví xôn
xao” trong khung cảnh đông đúc, những buổi kể khan bên bếp lửa bập bùng của
đông bào các dân tộc ít người ở Tây Nguyên… Môi trường hội hè, đình đám ấy
chính là một trong những nguyên nhân kích thích sự sáng tạo, một trong những
điều kiện tốt nhất để tìm tòi và thực hiện cảm hứng sáng tạo của các nghệ sĩ dân
gian.
Sáng tạo văn học dân gian mang tính tập thể, nó có quan hệ mật thiết với
tính truyền miệng, là một biểu hiện cho mối quan hệ phụ thuộc của văn học dân
gian vào môi trường sinh hoạt của nó và suy cho đến cùng là có cơ sở ở điều kiện
sống, điều kiện lao động và sinh hoạt tập thể của quần chúng nhân dân. Đặc trưng
của tính tập thể là văn học dân gian không có tác giả, văn học dân gian không phải
là tài sản của quốc gia dân tộc mà là của toàn nhân loại. Vì thế, chúng ta khi tiếp
nhân nó cân chuẩn bị tâm thế: hiểu rõ đặc điểm xã hội, giai cấp của nhân dân lao
động, đặt tác phẩm trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể và chấp nhận sự lặp lại trong

sáng tạo.
Khác văn học dân gian, phương thức sáng tác của văn học viết là ngôn ngữ
viết. Đây là thứ ngôn ngữ được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản và được tiếp
nhận bằng thị giác. Nó đòi hỏi phải có sự chọn lọc, suy nghĩ, nghiền ngẫm, gọt giũa
6


kĩ càng. Các tác phẩm văn học thành văn được văn bản hóa trong lưu truyền, đây
là một điều tiến bộ và thuận lợi, bởi việc ghi chép trên văn bản sẽ giúp cho quá
trình gìn giữ được lâu bền hơn.
Môi trường sáng tác của văn học viết là môi trường yên tĩnh. Mỗi nhà văn
tự chọn cho mình một không gian riêng biệt, phù hợp với tính cách, cảm xúc của
mình, khác với văn học dân gian ở môi trường đám đông nhằm ứng khẩu, ứng
đáp tại chỗ.
Do văn học viết được sáng tác bởi cá nhân, có tác giả rõ ràng nên các tác
phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân của người nghệ sĩ. Nó được biểu hiện thông qua
cái nhìn và giọng điệu độc đáo, riêng biệt của tác giả, các lớp nội dung của tác
phẩm, các phương tuện nghệ thuật mà tác giả sử dụng… Trong nền văn học nước
nhà, ta thấy rất nhiều nghệ sĩ có dấu ấn cá nhân riêng biệt của mình như: Nam
Cao với ngòi bút sắc lạnh “nhà văn của những kiếp lầm than”, một người cầm bút
với tâm hồn rộng mở để đón nhận “những vang động của đời”; Xuân Diệu với hồn
thơ luôn khao khát giao cảm với đời, luôn nồng nàn, say đắm trong tình yêu; Tô
Hoài nổi tiếng là nhà văn giỏi miêu tả phong tục, giỏi khắc họa nét đẹp riêng trong
cảnh vật và tính cách con người của một vùng đất; Nguyễn Tuân xứng đáng với
danh hiệu bậc thầy trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ với khả năng sáng tạo
những từ ngữ, hình ảnh mới lạ bất ngờ, những câu văn giàu chất nhạc chất họa
linh hoạt như “biết co duỗi nhịp nhàng”… và còn vô số nhà văn, nhà thơ với dấu
ấn riêng, độc đáo khác nữa.
Phương thức sáng tác và lưu truyền của văn học dân gian và văn học viết
tuy không giống nhau nhưng đặc trưng chung của chúng là đều cống hiến cho nền

văn học Việt Nam những tác phẩm đặc sắc, tuyệt vời.
c. Về nội dung phản ánh:
Do đặc trưng của văn học dân gian về lực lượng sáng tác, phương thức sáng
tác nên nội dung của nó hướng đến đời sống dân dã. Đó là những vấn đề thiết
7


thân, quen thuộc hằng ngày với nhân dân lao động. chẳng hạn qua thể loại ca
dao-dân ca ta bắt gặp các chủ đề hết sức bình dị.
Đầu tiên là đề tài tình yêu quê hương, đất nước:
“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương,
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.”
Đó là tình cảm thường trực trong trái tim con người Việt Nam, dù đi đâu về
đâu thì nơi đã sinh ra ta, nuôi dưỡng ta vẫn luôn được ta hướng về. những thứ
dân dã như “rau muống”, “cà” ta sẽ luôn ghi nhớ, nơi “chôn rau cắt rốn” ta sẽ
không bao giờ quên. Tình yêu quê hương, đất nước còn được thể hiện qua việc
giới thiệu các địa danh, thắng cảnh của dân tộc:
“Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái mặt gươm Tây Hồ.”
Thứ hai, đề tài tình yêu nam nữ cũng được nhân dân ta rất chú ý:
“Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng
Ai đi muôn dặm non sông,
Để ai chất chứa sầu đong vơi đầy.”
Tình yêu đôi lứa là thứ tình cảm đẹp đẽ nhất, trong sáng nhất, nó luôn chất
chứa bao nỗi niềm cần được giải tỏa. nỗi niềm ấy là nỗi nhớ nhau vô ngần:

“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa, như ngồi đống than”
Hay sâu sắc hơn, nghĩ ngợi hơn là nỗi niềm của những người phải chia xa,
phải chia li, gặp những trắc trở, trục trặc trong tình yêu:
“Đêm qua tựa gối loan phòng
Dầu hao thiếp xót, đèn chong canh dài,
Chờ chàng canh một, canh hai
Canh ba, canh bốn… đêm dài như sông.”
Nhưng nhân dân ta cũng không quên gửi gắm khát vọng về sự vẹn tròn
trong tình yêu:
8


“Đôi ta như khóa với chìa
Trọn niềm chung thủy, đừng lìa mới hay.”
Bên cạnh đó, trong đời sống của nhân dân ta thì thân phận người phụ nữ đã
trở thành một đề tài lớn và được khai thác một cách “trần trụi” nhất:
“Thân em như chổi đầu hè
Phòng khi mưa nắng đi về chùi chân.”
Hay:
“Em như con hạc đầu đình
Muốn bay không nhấc nổi mình mà bay.”
Người phụ nữ trong xã hội xưa luôn bị phụ thuộc. Họ vốn là những người
phụ nữ xinh đẹp, nết na, đoan trang, hiền thục nhưng bởi lỗi ở thời đại, ở tư
tưởng “trọng nam khinh nữ” mà họ phải chịu biết bao đau khổ, dập vùi:
“Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa
Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.”
Chủ đề thứ ba là tình cảm gia đình, với những đạo lí được nhân dân ta đút

rút hết sức ý nghĩa:
“Con người có tổ, có tông
Như cây có cội, như sông có nguồn.”
Hay:
“Cây khô chưa dễ mọc chồi
Bác mẹ chưa dễ ở đời với ta
Non xanh bao tuổi mà già
Bởi vì sương tuyết hóa ra bạc đầu.”
Những câu ca với lời lẽ thủ thỉ, tâm tình nhưng ẩn chứa nhiều bài học quý
giá. Nó dạy con người phải biết quý trọng ơn nghĩa của đấng sinh thành, sống trọn
đạo con cái. Tình cảm gia đình là thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý nhất. Đó là cái
nôi, cái nền, là nền tảng vững chắc để ta trưởng thành và trở nên một con người
đúng nghĩa. Vì vậy, ông cha ta luôn không ngừng nhắc nhở:
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
9


Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”
Ngoài ra, ca dao-dân ca còn có sức biểu hiên nhiều mối quan hệ khác trong
xã hội:
“Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruông trâu cày với ta.
Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây, trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông,
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.”
Hay:
“Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.”
Cái nhìn của quần chúng đã chi phối nội dung của các tác phẩm văn học dân
gian. Chẳng hạn ở thể loại truyện cổ tích, ta luôn bắt gặp những cái kết có hậu,
nhân vật thiện sẽ chiến thắng: cô Tấm sau bao biến cố dập vùi đã trở về làm
hoàng hậu, anh Khoai trong “Cây tre trăm đốt” đã hoàn thành nhiệm vụ và sống
đời hạnh phúc… các nhân vật phản diện sẽ bị trừng trị đích đáng. Đó là ước mơ,
khát vọng, là cái nhìn quần chúng của nhân dân lao động.
Cụ thể chúng ta sẽ cùng phân tích cái nhìn quần chúng đã được thể hiện
trong truyện cổ tích “Tấm Cám”. Cuộc đời của cô Tấm phải chịu nhiều đau khổ, bất
hạnh do mẹ con Cám gây ra. Trải qua mọi đau khổ cô vẫn giữ được vẽ đẹp của
mình, vẽ đẹp của thể chất và quan trọng hơn là vẽ đẹp về tinh thần. Ta tưởng như
cô hiền hậu và vị tha hết mức thậm chí đến mức mềm yếu. Nhưng không dưới cái
nhìn của quần chúng buộc cô phải kiên cường, phải biết đấu tranh. Cô gái ngây
thơ đó, khi cần thì đã biết căm thù, cô gái dịu hiền đó, khi cần thì đã biết đứng lên.
Kết cục của truyện một làn nữa được soi rọi dưới cái nhìn của nhân dân ta: Tấm
trừng phạt Cám, có như vậy mới chân thực. Cô Tấm đứng trước hai sự lựa chọn:
tha thứ để chúng tiếp tục giết mình hay giết chúng để mình được sống. Việc trừng
10


phạt ấy nó không hề làm giảm đạo đức của cô mà ngược lại nó thể hiện được sự
rạch ròi trong nhận thức của tác giả dân gian “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo”. Cái
nhìn quần chúng ấy đã chi phối mạnh mẽ câu chuyện và để lại cho hậu thế nhiều
bài học thật quý giá.
Nội dung phản ánh của văn học viết, phần lớn thuộc phạm trù cao nhã. Với
những đề tài phong phú, được “tinh chọn” một cách kĩ cáng. Đề tài thiên nhiên,
con người, tình yêu được sàng lọc qua cái nhìn của tầng lớp trí thức trở nên thật
mới lạ. Chẳng hạn, khi Nguyễn Du viết về thân phận của người phụ nữ trong kiệt
tác “Truyện Kiều” ông đã khái quát:
“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Chỉ có thể qua cái nhìn của một người trí thức từng trải, sống với đời, lăn
lộn với đời, đi sâu tìm hiểu mới có những câu thơ khái quát làm đau lòng người ta,
làm nhói lòng người ta và làm người ta gật đầu lia lịa như vậy: Đúng! Quá đúng!
Cái nhìn của Nguyễn Du đã bao trọn, ôm lấy thân phận phái nữ thời trung đại chỉ
trong hai câu thơ. Thật tài tình!
Trong truyện ngắn Đời thừa của nhà văn Nam Cao, một câu chuyện nhẹ
nhàng nhưng khiến ta thấm thía. Tác phẩm kể về nhân vật Hộ, một văn sĩ với khát
vọng cao cả nhưng vướng vào cảnh “áo cơm ghì sát đất”, bị những gánh nặng lo
toa của cuộc sống làm cho lung lạc và dần trở thành một con người “sống tồi,
sống tẻ”, đánh mất phương hướng trong cuộc sống. Nhưng dưới cái nhìn của một
người trí thức như Nam Cao đã làm cho người đọc cảm thấy Hộ đáng thương hơn
là đáng trách. Những câu văn viết ra từ màu thịt, huyết quản của tác giả thấu suốt
tất cả nỗi lòng nhân vật, làm bật lên nghịch cảnh và gửi gắm những triết lí nhân
sinh cao cả.

11


Về mặt nội dung, giữa văn học dân gian và văn học viết với cái nhìn khác
nhau, hệ thống đề tài cũng khác nhau. Điều này được quy định bởi lực lượng sáng
tác, hoàn cảnh xã hội và nhiều yếu tố khác nữa.
d. Về thủ pháp nghệ thuật:
Ngôn ngữ sử dụng trong văn học dân gian là ngôn ngữ bình dân, dễ nghe,
dễ hiểu, phù hợp với đời sống đơn giản, bình dị của nhân dân lao động. Chẳng
hạn, qua các câu văn trích trong sử thi “Đăm Săm” của đồng bào Ê-Đê: “ Mtao
Mxây là một tù trưởng giàu mạnh. Gông cùm, tù binh chật cả làng. Lông chân
như đắp thêm một lớp. Lông mày sắc như đá mài. Con mắt sáng ngời như đã
uống hết một chum rượu, đến nỗi một con trâu lớn cũng không dám đi qua” hay
“Anh đi trên đường cái thoắt thoắt như con rắn Prao huê. Anh đi trong đám cỏ

tranh nhanh như con rắn Prao hơ mat…”.
Hình thức của các tác phẩm văn học dân gian khá giản dị, có lẽ vì chưa xuất
hiện chữ viết và trí tuệ đơn giản, cái nhìn dân dã của người dân mà nên. Ví dụ như
các câu truyện cười, ngụ ngôn với dung lượng vô cùng ngắn gọn và câu chữ gần
gũi, thân thuộc với mỗi chúng ta. Nó dễ hiểu, dễ nhớ và đi sâu vào tâm trí của bao
thế hệ.
Các thể loại dân tộc được sử dụng một cách dày đặc, nhuần nhuyễn. Văn
học dân gian bao gồm các thể loại chính sau đây: thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn,
truyện cười, vè, tục ngữ, ca dao, câu đố, sử thi, truyền thuyết, chèo sân đình,
tuồng đồ…
Bên cạnh đó, văn học dân gian cũng có sự cách tân trong khuôn khổ truyền
thống. Điều này thể hiện khá rõ ở thể loại ca dao lục bát: ca dao lục bát hình thức
vốn có của nó là hai câu 6/8, nhưng theo thời gian nó đã được biến thể, đổi mới,
vượt ra khỏi giới hạn thông thường:
“Thấy em nhỏ thó lại có duyên ngầm
Anh phải lòng thầm đã bấy lâu nay.”
Hay:
12


“Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Ngũ lục sông cũng lội, thất bát đào cũng qua.”
Rõ ràng sự sáng tạo của nhân dân lao động đã góp phần làm hay hơn, mới
lạ hơn những cái vốn dĩ đã trở thành khuôn khổ. Đồng thời,nó làm tăng giá trị
biểu cảm của câu văn, câu thơ, diễn đạt một cách viên mãn dụng ý nghệ thuật của
tác giả dân gian.
Khác với văn học dân gian, văn học viết sử dụng ngôn từ trang trọng, mang
sắc thái biểu hiện cao, có nhiều từ được xem là rất “đắc địa” khi làm tăng tính
biểu cảm của câu thơ, câu văn một cách hết sức mạnh mẽ. Điển hình là nhà văn
Nguyễn Tuân- bậc thầy của ngôn ngữ: “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một

áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban
hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”, “Và thời gian
của đồng hồ thủy tiên đêm tết xa như không ngớt thánh thót vương hương”, “SêKhốp là cái sáo diều vĩ đại, trên đôi cánh âm vang tiếng nói của hiện thực và nhịp
thơ của lãng mạn”…
Hình thức của các tác phẩm khá cầu kì, phức tạp, đặc biệt là các tác phẩm
thuộc nền văn học trung đại với những quy tắc, khuôn khổ bắt buộc:
“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đay luống đoạn trường.”
( Bà Huyện Thanh Quan, Hoài Cổ)
Hay:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.”
(Nguyễn Khuyến, Thu Điếu)

13


Do xu thế thời đại, dòng văn học viết buộc phải du nhập từ bên ngoài các
thể loại để đưa nền văn học nước nhà hội nhập cùng nền văn học thế giới. chẳng
hạn, nhà thơ Xuân Diệu đã tiêp thu thể thơ vắt dòng từ văn học phương Tây:
“Tôi muốn tắt nắng đi
cho màu đừng nhạt mất
tôi muốn buộc gió lại
cho hương đừng bay đi.”
Thể thơ tự do cũng là một thể thơ được du nhập từ bên ngoài. Thơ tự do
phá bỏ mọi sự cứng rắn, khắt khe về số câu, số chữ, bố cục, luật bằng trắc, vần

nhịp… Nó khiến quá trình sáng tác trở nên thoải mái và hứng thú hơn:
“Còn chi nữa em ơi!
Còn đâu ánh trăng vàng,
Mơ trên làn tóc rối,
Chân nàng trên đường sồi,
Sương lá đổ vội vàng”
(Lưu Trọng Lư, Còn Chi Nữa)
Hay:
“Dẫu tin tưởng chung một đời một mộng
Em là em anh vẫn cứ là anh
Có thể nào qua vạn lí trường thành
Cuả hai vũ trụ chứa đầy bí mật.”
(Xuân Diệu, Xa Cách)
Văn học dân gian và văn học viết đã sử dụng các thủ pháp nghệ thuật khác
nhau, tạo nên nét riêng biệt và nổi bật của hai bộ phận hợp thành nền văn học
dân tộc.
4. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết:
Văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học
dân tộc. khi chưa có chữ viết, nền văn học Việt Nam chỉ có văn học dân gian; khi
có chữ viết nền văn học Việt Nam mới bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian và
văn học viết.

14


Văn học viết chịu ảnh hưởng của văn học dân gian về nhiều phương diện, từ
nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật. Ví dụ như truyền thuyết “Thánh
Gióng” đã mở đầu cho dòng văn học yêu nước, chống xâm lược trong nền văn học
dân tộc; thể thơ lục bát, thể thơ được thi hào Nguyễn Du sử dụng một cách tài
tình, bắt nguồn từ bộ phận văn vần dân gian…

Văn học viết cũng có tác động trở lại văn học dân gian trên một số phương
diện. Chẳng hạn, tác giả dân gian đã đưa những chất liệu văn học viết vào ca dao,
dân ca ( những nhân vật trong Truyện Kiều, Lục Vân Tiên… ):
“Hai ta như Kim Trọng, Thúy Kiều
Đã lắm lúc đắng, còn nhiều lúc cay.”
Hay:
“Anh mà bắt chước Thúc Sinh
Thì anh đừng trách vợ mình Hoạn Thư.”
Mối quan hệ của văn học dân gian với văn học viết cũng như vai trò, ảnh
hưởng của văn học dân gian với văn học viết thể hiện trọn vẹn hơn cả ở lĩnh vực
sáng tác và ở bộ phận thơ văn quốc âm. Cụ thể, trong bài viết “Mối quan hệ giữa
văn học dân gian với văn học viết trong lịch sử văn học dân tộc”, Nguyễn Đình Chú
đã chỉ rõ mối quan hệ ấy thông qua hai hiện tượng tiêu biểu: dùng chữ quốc ngữ
để sưu tầm, ghi chép văn học dân gian và khai thác kho tàng văn học dân gian
trong khi sáng tác văn học hiện đại.
Như vậy, trong quá trình phát triển, hai bộ phận văn học dân gian và văn
học viết luôn có mối quan hệ biện chứng, tác động, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để
15


cùng phát triển. Văn học dân gian là nền tảng cho văn học viết tiếp thu. Trái lại, có
tác động trở lại làm văn học dân gian thêm phong phú, đa dạng.

KẾT LUẬN
Giữa văn học dân gian và văn học viết có nhiều nét tương đồng và khác biệt.
đó là đặc trưng về lực lượng sáng tác, phương thức sáng tác và lưu truyền, nội
dung phản ánh và thủ pháp nghệ thuật. Tuy nhiên, chúng cũng có mối quan hệ
chặt chẽ, mật thiết với nhau và cùng tồn tại song hành trong nền văn học Việt
Nam. Thông qua việc đối chiếu, chúng ta có thể thấy rằng, văn học dân gian là một
bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống của nhân dân lao động, được ghi lại bằng

một phương thức nghệ thuật độc đáo. Cho nên văn học dân gian của mỗi dân tộc
là một trong những thành tựu văn hóa, thành tựu nghệ thuật quan trọng nhất,
làm cơ sở cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa nghệ thuật của dân tộc đó.
Văn học dân gian và văn học viết sẽ luôn đứng bên cạnh nhau, bổ trợ và cùng phát
triển để xây dựng nên một nền văn học dân tộc phong phú, đa dạng và trường
tồn.

16


PHỤ LỤC
*BẢNG: PHÂN BIỆT VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC VIẾT:
STT

1

2

3
4

TIÊU CHÍ
Lực lượng
sáng tác
Phương
thức sáng
tác và lưu
truyền
Nội dung
phản ánh

Thủ pháp
nghệ thuật

VĂN HỌC DÂN GIAN
• Nhân dân lao động
• Phục vụ sinh hoạt,
sản xuất
• Quê mùa, chất phác
• Ngôn ngữ nói
• Truyền miệng
• Môi trường hội hè,
đình đám
• Sáng tạo tập thể
• Đời sống dân dã
• Cái nhìn của quần
chúng
• Ngôn ngữ bình dân
• Hình thức giản dị
• Thể loại dân tộc
• Đổi mới trong khuôn
khổ truyền thống















TÀI LIỆU THAM KHẢO
17

VĂN HỌC VIẾT
Trí thức
Thưởng thức nghệ
thuật, kiếm sống
Cao nhã, trí tuệ
Ngôn ngữ viêt
Văn bản hóa
Môi trường yên tĩnh
Dấu ấn cá nhân
Phạm trù cao nhã
Cái nhìn của tầng lớp
trí thức
Ngôn từ trang trọng
Hình thức cầu kì, phức
tạp
Thể loại du nhâp từ
bên ngoài


ST
T
1

2
3
4
5
6
7
8
9

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Bích Hà. Giáo trình VHDG Việt Nam. NXB ĐHSP, H, 2012.
Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn. VHDG Việt Nam. NXB
GD, H, 1998.
Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hưng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp. VHDG- Những công
trình nghiên cứu. NXB GD, H, 2001.
Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hưng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp. VHDG- Những tác
phẩm chọn lọc. NXB GD, H, 2002.
Nguyễn Minh (sưu tầm). Ca dao, tục ngữ Việt Nam. NXB Thanh Hóa,
2007.
Nguyễn Xuân Kính. Thi pháp ca dao. NXB ĐHQG Hà Nội, 2004
Vũ Ngọc Phan. Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam. NXB KHXH, 1978.
Nguyễn Thanh Liêm. Bài viết: “ Thơ đường luật và thơ tự do”. Đăng trên
www.caulacbotinhnghesi.net
Nguyễn Đình Chú. Bài viết: “ Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn
học viết trong lịch sử văn học dân tộc”. đăng trên huc.edu.vn

*Bài viết còn rất nhiều thiếu sót, hạn chế em rất mong nhận được sự góp ý của
thầy qua địa chỉ mail:
Em xin chân thành cảm ơn.


18


19



sự khác biệt văn học dân gian và văn học trung đại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (219.22 KB, 40 trang )

Sự khác biệt VHDG - VHTĐ

MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................. 1
A. LỜI NÓI ĐẦU..................................................................................................2
B. NỘI DUNG......................................................................................................3
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC TRUNG
ĐẠI....................................................................................................................... 3
Chương 2: SO SÁNH VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
VIỆT NAM...........................................................................................................8
Chương 3: MỐI LIÊN HỆ GIỮA VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC
TRUNG ĐẠI.......................................................................................................23
CHƯƠNG 4: NGUYÊN NHÂN KHÁCH QUAN – CHỦ QUAN.....................35
C. KẾT LUẬN....................................................................................................40

1


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ

A. LỜI NÓI ĐẦU
Trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc, luôn diễn ra quá trình tiếp nối, kế
thừa và phát triển những thành tựu giữa các nền văn học, các giai đoạn, các trào
lưu văn học với nhau. Văn học dân gian chính là nguồn sữa mát lành, là nguồn
cảm hứng dạt dào của thi nhân, là cội nguồn gần gũi và trực tiếp ảnh hưởng đến
văn học trung đại. Văn học dân gian và văn học trung đại tuy là hai bộ phận văn
học khác nhau nhưng lại có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau.
Văn học dân gian có vị trí vai trò rất quan trọng trong nền văn học nước
nhà. Trong hàng nghìn năm Bắc thuộc và ở các thời kì dân tộc ta chưa có chữ
viết hoặc chữ viết chưa phổ cập, văn học dân gian đã đóng góp to lớn trong việc
gìn giữ, mài giũa và phát triển ngôn ngữ dân tộc sâu sắc và những sáng tạo nghệ


thuật độc đáo, tài hoa của văn học dân gian có tác động mạnh mẽ đối với sự hình
thành và phát triển của văn học viết từ nội dung đến hình thức. Suối nguồn dân
gian tựa như mảnh đất màu mỡ tràn trề nhựa sống để các nhà thơ nhà văn đắm
mình thưởng thức và học hỏi. Các tác giả văn học trung đại đã thừa hưởng sự
phong phú của nền văn hóa dân gian và sáng tạo vào thơ mình một cách đặc biệt
và đầy ấn tượng vào trong tác phẩm của mình. Văn học dân gian ra đời sớm hơn
văn học viết nhưng lại tồn tại song song với văn học viết, truyền cho văn học viết
một sức sống mới, tặng cho người đọc những bài viết, tác phẩm có sức lay động
tình cảm của người bình dân.
Tìm hiểu “Những đặc điểm khác biệt giữa văn học dân gian và văn học
trung đại” cũng như chỉ ra “nguyên nhân của sự ảnh hưởng của văn học dân
gian và văn học trung đại” để thấy rõ những quy luật kế thừa và phát triển của
văn học cũng như những ý nghĩa to lớn của nền văn học dân gian đối với văn học
trung đại và sự ảnh hưởng qua lại, biện chứng giữa hai nền văn học này.

2


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ

B. NỘI DUNG
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC
TRUNG ĐẠI
1.1. Khái quát về văn học dân gian
1.1.1. Khái niệm
Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng được
tập thể sáng tạo nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho những sinh hoạt khác nhau
trong đời sống cộng đồng.

1.1.2. Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian

Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng (tính
truyền miệng). Truyền miệng đó là sự ghi nhớ theo kiểu nhập tâm và phổ biến
bằng lời hoặc trình diễn cho người khác nghe, xem. Văn học dân gian khi được
phổ biến lại đã thông qua lăng kính chủ quan của người truyền tụng thường được
sáng tạo thêm nên tính truyền miệng gắn liền với tính dị bản. Văn học dân gian
được truyền miệng từ người này sang người khác, từ nơi này sang nơi khác (theo
không gian), từ đời này qua đời khác, từ thời này qua thời khác (theo thời gian)
cho nên tính truyền miệng còn gắn với tính địa phương. Quá trình truyền miệng
được thực hiện thông qua hình thức diễn xướng. Các hình thức diễn xướng
thường là: nói, kể, hát, diễn tác phẩm văn học dân gian cho nên tính truyền miếng
gắn với tính biểu diễn.
Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể (Tính tập thể).
Quá trình sáng tác Văn học dân gian thông thường là: Ban đầu tác phẩm VHDG
do một người khởi xướng; rồi được tập thể tiếp nhận và lưu truyền, biến đổi dần,
phong phú và hoàn thiện hơn. Như vậy, nhân dân lao động là lực lượng chính tạo
ra kho tàng văn học dân gian đồ sộ của mỗi dân tộc. Văn học dân gian gắn bó và
phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng. Nó còn
đóng vai trò phối hợp hoạt động theo nhịp điệu của hoạt động đó. Như bài ca:
Tay cầm con dao/ Làm sao cho sắc….Văn học dân gian gây không khí để kích
thích hoạt động, gợi cảm hứng cho người trong cuộc. Như “Hò kéo lưới”, “Hò
giã gạo”…
Như vậy, tính truyền miệng và tính tập thể là những đặc trưng cơ bản, chi
phối, xuyên suốt quá trình sáng tạo và lưu truyền tác phẩm văn học dân gian, thể
hiện sự gắn bó mật thiết của văn học dân gian với các sinh hoạt khác nhau trong
đời sống cộng đồng.

1.1.3. Hệ thống thể loại của vhdg việt nam
Thần thoại. VD: Quả bầu mẹ, Thần trụ trời…
3



Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
Sử thi. VD: Đẻ đất đẻ nước (Mường), Đăm-săn (Ê-đê)
Truyền thuyết. VD: Con rồng cháu tiên…
Truyện cổ tích. VD: Tấm Cám, Sọ Dừa…
Truyện ngụ ngôn. VD: Trí khôn của ta đây
Truyện cười. VD: Lợn cưới áo mới…
Tục ngữ. VD: Nước chảy đá mòn
Câu đố. VD: Thân em xưa ở bụi tre/ Mùa đông xếp lại mùa hè mở ra
Ca dao. VD: Công cha như núiThái Sơn…
Vè. VD: Nghe vẻ nghè ve/ Nghe vè…
Truyện thơ. VD: Tiễn dặn người yêu (Thái)
Chèo. VD: Quan Am Thị Kính
Nói tóm lại văn học dân gian tồn tại dưới hình thức truyền miệng thông qua
diễn xướng. Trong quá trình lưu truyền văn học dân gian được tập thể không
ngừng sáng tạo lại và hoàn thiện. Văn học dân gian gắn bó và phục vụ trực tiếp
cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng. Văn học dân gian có
nhiều giá trị to lớn về nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, cần được trân trọng và phát
huy.

1.2. Khái quát về văn học trung đại Việt Nam
Văn học Trung đại là khái niệm dùng để chỉ bộ phận văn học viết Việt Nam
từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX tồn tại và phát triển trong xã hội phong kiến.

1.2.1. Các thành phần của văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX
Nhìn chung, văn học Trung đại gồm hai thành phần chủ yếu là văn học chữ
Hán và văn học chữ Nôm. Văn học chữ Hán là sáng tác bằng chữ Hán của người
Việt. Thành phần văn học này xuất hiện từ sớm, tồn tại trong suốt quá trình hình
thành và phát triển của văn học trung đại. Văn học chữ Nôm bao gồm các sáng
tác bằng chữ Nôm, ra đời muộn hơn văn học chữ Hán (khoảng cuối thế kỉ XIII

mới xuất hiện), tồn tại và phát triển đến hết thời kì văn học trung đại. Hai thành
phần văn học này không đối lập nhau mà bổ sung cho nhau trong quá trình phát
triển của văn học dân tộc.

1.2.2. Các giai đoạn phát triển của văn học trung đại
Văn học trung đại Việt Nam phát triển qua bốn giai đoạn: giai đoạn từ thế kỉ
X đến hết thế kỉ XIV, văn học phát triển trong hoàn cảnh đặc biệt – dân tộc ta lập
được độc lập tự chủ, lập được nhiều kì tích trong cuộc kháng chiến chống quân
xâm lược, chế độ phong kiến đang ở giai đoạn phát triển nên văn học chủ yếu
mang âm hưởng yêu nước hào hùng như “Vận nước” của Pháp Nhuận, “Chiếu
dời đô” của Lý Công Uẩn, “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt, “Hịch tướng
sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Tụng giá hoàn kinh sư” của Trần Quang Khải…Giai
đoạn thứ hai từ thế kỉ XVI đến hết thế kỉ XVII, nhân dân ta tiếp tục làm nên kì
4


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
tích trong cuộc kháng chiến chống quân Minh nửa đầu thế kỉ XV đưa chế độ
phong kiến Việt Nam đạt đến đỉnh cao cực thịnh, bước sang thế kỉ XVI, chế độ
phong kiến đã bắt đầu có những biểu hiện khủng hoảng cho nên văn học từ nội
dung yêu nước mang âm hưởng ngợi ca dần chuyển sang nội dung phản ánh thế
sự với những tác phẩm tiêu biểu ở giai đoạn này như sáng tác của Nguyễn Trãi,
Nguyễn Dữ, Nguyễn Bỉnh Khiêm…Giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ
XIX, đất nước có nhiều biến động bởi nội chiến phong kiến và bão táp của phong
trào khởi nghĩa mà đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn. Chế độ phong kiến đi từ
khủng hoảng đến suy thoái, cuộc khởi nghĩa của người anh hùng Quang Trung
Nguyễn Huệ đã thống nhất được đất nước, đánh đuổi quân Thanh, trong giai
đoạn này, văn học phát triển vượt bậc, có nhiều đỉnh cao nghệ thuật – là giai đoạn
phát triển rực rỡ nhất của văn học trung đại Việt Nam, được mệnh danh là giai
đoạn văn học cổ điển. Giai đoạn này cũng chứng kiến sự xuất hiện của trào lưu

nhân đạo chủ nghĩa với những gương mặt tiêu biểu như Đặng Trần Côn, Nguyễn
Du, Hồ Xuân Hương…Giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp xâm lược
Việt Nam, nhân dân cả nước kiên cường bất khuất đứng lên chống giặc. Nhưng
rồi đất nước dần rơi vào tay giặc. Xã hội Việt Nam chuyển dần từ xã hội phong
kiến sang thực dân phong kiến, văn học yêu nước ở giai đoạn này nhìn chung
mang âm hưởng bi tráng, Những gương mặt điển hình ở giai đoạn này Nguyễn
Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ…

1.2.3. Những đặc điểm lớn về nội dung của văn học từ thế kỉ X đến hết
thế kỉ XIX
Chủ nghĩa yêu nước trở thành ội dung lớn, xuyên suốt nền văn học. Yêu
nước trong văn học trung đại gắn liền với tư tưởng “trung quân, ái quốc” (Trung
với vua là yêu nước). Tuy nhiên, tư tưởng yêu nước có tính đặc thù này không
tách rời với truyền thống yêu nước của dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước biểu hiện
phong phú, đa dạng, là âm điệu hào hùng khi đất nước có giặc ngoại xâm, là âm
hưởng bi tráng lúc nước mất nhà tan, là giọng điệu thiết tha khi đất nước trong
cảnh thanh bình thịnh trị. Nhìn chung, chủ nghĩa yêu nước tập trung thể hiện ở
nhiều phương diện: ý thức độc lập tự chủ, tự hào như “Nam quốc sơn hà” của Lý
Thường Kiệt, “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi; lòng căm thù giặc, ý chí
quyết chiến, quyết thắng “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn; yêu thiên nhiên,
đất nước trong văn học Lý Trần, ca ngợi những người hi sinh vì nước của
Nguyễn Đình Chiểu…
Cùng với chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo cũng là nội dung lớn,
xuyên suốt nền văn học. Chủ nghĩa nhân đạo ảnh hưởng từ truyền thống nhân
đạo của người Việt, của văn học dân gian; tư tưởng Phật giáo và Nho giáo, Đạo
giáo… Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại cũng được biểu hiện phong
phú, đa dạng như tình thương đối với con người; Lên án tố cáo những thế lực tàn
bạo chà đạp lên con người; Khẳng định, đề cao, ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp
5



Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
của con người; Nói lên ước mơ và khát vọng về hạnh phúc và quuyền sống của
con người. Tiểu biểu có văn học Lí- Trần, thơ văn Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Nguyễn Dữ, thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu;
Đặng Trần Côn…
Bên cạnh hai nội dung lớn là chủ nghĩa yêu nước và nhân đạo, trong văn
học trung đại còn thể hiện cảm hứng thế sự. Phản ánh hiện thực xã hội, cuộc
sống đau khổ của nhân dân và đây là tiền đề cho chủ nghĩa hiện thực phê phán
trong văn học hiện đại. Cảm hứng thế sự thường xuất hiện khi triều đại phong
kiến có biểu hiện suy thoái. Như cuối đời Trần, Tk XVI; Tk XVIII- XIX…Tiêu
biểu cho nội dung này là thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thượng kinh kí sự (Lê
Hữu Trác), Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ), Thơ văn Nguyễn Khuyến, Tú
Xương….

1.2.4. Những đặc điểm lớn về nghệ thuật của văn học từ tk X đến hết tk
XIX
Trước hết là tính quy phạm và phá vỡ tính quy phạm. Tính quy phạm là
sự quy định chặt chẽ theo khuôn mẫu, đặc điểm nổi bật bao trùm văn học trung
đại. Điều này được thể hiện qua: Quan điểm văn học thì dùng văn học để giáo
huấn, để nói lên ý chí con người, để chở đạo “văn dĩ tải đạo”; Tư duy nghệ thuật
thường theo kiểu mẫu nghệ thuật có sẵn thành công thức. Ví như người (ngư,
tiều, canh, mục), con vật (long, lân, quy, phụng), cây (tùng, trúc, bách chỉ người
quân tử), cây (mai, đào, liễu chỉ người phụ nữ xinh đẹp)...Ở thể loại, quy định
chặt chẽ về kết cấu ví như thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, lục bát...Sử dụng
thi liệu: dẫn nhiều điển tích điển cố, mang tính ước lệ, tượng trưng. Bên cạnh tính
quy phạm, còn có phá vỡ tính quy phạm tức không tuân thủ tính quy phạm, phát
huy cá tính sáng tạo trong nội dung và hình thức.
Thứ hai là khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị. Tính trang nhã
thể hiện ở đề tài, chủ đề: hướng tới cái cao cả, trang trọng; hình tượng nghệ

thuật: hướng tới cái tao nhã, mĩ lệ; Ngôn ngữ nghệ thuật: cách diễn đạt trau
chuốt, hoa mĩ. Ngược lại, xu hướng bình dị lại gắn bó với hiện thực đời sống, tự
nhiên và bình dị.
Tiếp theo là tiếp thu và dân tộc hoá tinh hoa văn học nước ngoài. Đầu tiên
là tiếp thu tinh hoa văn học Trung Quốc như về ngôn ngữ: dùng chữ Hán để
sáng tác; Về thể loại: sử dụng thể loại văn học Trung Quốc như: thể cổ phong và
Đường luật (văn vần), chiếu, biểu, truyền kì, tiểu thuyết chương hồi (văn xuôi);
Về thi liệu: sử dụng điển cố, điển tích, thi liệu Hán văn. Bên cạnh đó có dân tộc
hóa tinh hoa văn học nước ngoài như sáng tạo ra chữ Nôm ghi âm tiếng Việt;
Việt hoá thể thơ Đường thành thơ Nôm Đường luật; Sáng tạo nhiều thể thơ dân
tộc: lục bát, song thất lục bát, ngâm khúc, truyện thơ, hát nói…Sử dụng lời ăn
tiếng nói, cách diễn đạt của nhân dân.

6


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
Nói tóm lại, văn học trung đại từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX được gọi là
văn học trung đại, gồm hai thành phần: Văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm,
phát triển qua bốn giai đoạn. Những đặc điểm lớn về nội dung là chủ nghĩa yêu
nước, chủ nghĩa nhân đạo và cảm hứng thế sự. Những đặc điểm lớn về nghệ
thuật là tính quy phạm, tính trang nhã, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nước ngoài
vừa sáng tạo những giá trị văn học mới mang bản sắc dân tộc.

7


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ

Chương 2: SO SÁNH VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC TRUNG

ĐẠI VIỆT NAM
2. 1. Sự giống nhau
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam đã sáng tạo nên nhiều
giá trị vật chất và tinh thần to lớn, đáng tự hào. Nền văn học Việt Nam là một
trong những bằng chứng tiêu biểu cho năng lực sáng tạo tinh thần ấy. Đó là nền
văn học được tổng hòa bởi hai bộ phận Văn học dân gian và Văn học viết, trong
bộ phận văn học viết còn được chia làm hai thời kì lớn văn học Trung đại và văn
học Hiện đại. Vì là hai bộ phận của nền văn học nên giữa văn học dân gian và
văn học viết nói chung, văn học Trung đại nói riêng luôn có những điểm tương
đồng nhất định. Điểm giống nhau trước hết là mục đích ra đời, rõ ràng cả hai bộ
phận văn học ra đời ở những thời điểm khác nhau nhưng đều xuất phát từ nhu
cầu của đời sống tinh thần nhân dân, nhu cầu được trao đổi, được bộc, được thể
hiện những tâm tư, tình cảm, quan niệm sống…Tiếp theo, cả hai bộ phận văn học
đều là loại hình nghệ thuật ngôn từ nên chúng ta có thể sử dụng những nguyên
tắc và phương pháp nghiên cứu văn học nói chung để nghiên cứu văn học dân
gian hay văn học Trung đại. Tác phẩm văn học dân gian và văn học Trung đại
đều bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống đặc biệt lấy con người là đối
tượng phản ánh chính, nên cả hai bộ phận văn học này đều tập trung thể hiện
con người trong nhiều mối quan hệ đa dạng, phức tạp như con người trong mối
quan hệ với thế giới tự nhiên, con người trong mối quan hệ với quốc gia dân tộc,
con người trong mối quan hệ với xã hội và con người với ý thức về bản thân.
Một điểm giống nhau chúng ta dễ dàng nhận thấy nữa đó là cả văn học dân gian
và văn học Trung đại đều có chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và
chức năng thẩm mĩ cho nên học văn học dân tộc là để bồi dưỡng nhân cách, đạo
đức, tình cảm, quan niệm thẩm mĩ và trau dồi tiếng mẹ đẻ.

8


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ


2.2. Sự khác nhau
Như chúng ta đã biết, cả văn học dân gian và văn học viết đều là hai bộ
phận của nền văn học dân tộc nên sẽ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố chung dẫn
đến có những điểm giống nhau nhất định. Tuy nhiên, giữa hai bộ phận này vẫn có
những điểm điểm khác biệt dễ nhận thấy. Ở bài tiểu luận này, nhóm xin được chỉ
ra điểm khác biệt giữa văn học dân gian và văn học Trung đại – một thời kì của
văn học viết trên các mặt như thời điểm ra đời, khái niệm, đặc trưng, thể loại.

2.2.1. Thời gian ra đời
Trước hết, về thời điểm ra đời, văn học dân gian ra đời từ rất sớm, khi
những cảm xúc thẩm mĩ có tính độc lập tương đối và được dùng để thỏa mãn nhu
cầu tinh thần của con người. Sự ra đời của những sáng tác truyền miệng (văn học
dân gian) đánh dấu sự ra đời của nghệ thuật ngôn từ, đánh dấu quá trình hình
thành hoàn toàn của sự nhận thức thẩm mĩ. Khi chữ viết ra đời, hình thành bộ
phận văn học viết, trong đó có văn học Trung đại. Văn học Trung đại được dùng
để chỉ nền văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, tồn tại dưới chế độ
phòng kiến, chịu sự chi phối mạnh mẽ của chế độ này. Khi nền văn học viết ra
đời biểu hiện cho “sự sản xuất nghệ thuật được chuyên môn hóa” (Mac) nhưng
hoạt động nghệ thuật đã được chuyên môn hóa chỉ có thể là sản phẩm của sự
phân công lao động, cụ thể là phân công lao động trí óc và chân thay – sản phẩm
của xã hội có giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, “những tư tưởng của giai cấp
thống trị cũng là những tư tưởng thống trị của mỗi thời đại, nói một cách khác,
giai cấp nào đang là thế lực thống trị trong xã hội về mặt vật chất thì cũng là thế
lực thống trị về mặt tinh thần” (Mác). Cho nên trong quá trình phân công lao
động giữa sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, nghệ thuật nói chung không
những đã trở thành một lĩnh vực hoạt động độc lập, mà ngay cả bản thân nghệ
thuật cũng phân ra thành hai hình thức: trong khi văn học thành văn tồn tại thì
văn học dân gian vẫn tiếp tục phát triển như một lĩnh vực hoạt động sản xuất tinh
thần riêng của nhân dân lao động để thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của họ. Bởi văn

học của tầng lớp trí thức không đáp ứng được nhu cầu thẩm mĩ của đông đảo
nhân dân lao động, bản thân nhân dân lao động cũng bị tước đoạt những điều
kiện để có một trình độ văn hóa và một sự trang bị kiến thức nghệ thuật cần thiết
để tiếp thu những thành tựu của nền văn học thành văn, mặt khác khi văn học
viết ra đời, văn học dân gian vẫn tiếp tục tồn tại bởi do nhu cầu sáng tạo giá trị
tinh thần của nhân dân lao động.

2.2.2. Khái niệm
Văn học dân gian là sáng tác tập thể và truyền miệng của nhân dân lao
động. Văn học dân gian Việt Nam còn có tên gọi là văn chương bình dân (văn
học bình dân, văn học đại chúng), hay văn chương truyền khẩu (văn học truyền
9


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
khẩu, văn học truyền miệng), hoặc văn nghệ dân gian, sáng tác dân gian…Còn
văn học viết nói chung, văn học Trung đại nói riêng là sáng tác của trí thức, được
ghi lại bằng chữ viết. Là sáng tạo của cá nhân, tác phẩm văn học viết vì thế mang
dấu ấn tác giả.

2.2.3. Đặc trưng
Rõ ràng, cùng trong một nền văn học nhưng giữa văn học dân gian và văn
học viết nói chung, văn học Trung đại nói riêng có những điểm khác biệt rất rõ về
mặt đặc trưng. Văn học dân gian ra đời từ buổi sớm của xã hội loài người, khi
con người chưa phát minh ra chữ viết. Trong thời kì đó, truyền miệng (nói, hát,
kể…) là phương thức duy nhất và tất yếu của Văn học dân gian. Đây chính là
điểm khác biệt đầu tiên, cơ bản và dễ nhận thấy nhất giữa Văn học dân gian và
Văn học trung đại. Theo thời gian, đến khi nhân loại có chữ viết, đặc biệt là khi
chữ viết trở nên phổ biến, một bộ phận Văn học dân gian được văn bản hóa, tức
phương thức truyền miệng không còn là duy nhất. Tuy vậy, đời sống thực sự của

nó vẫn được duy trì bằng con đường mà nó đã nảy sinh.
Đặc trưng truyền miệng phản ánh phương thức sinh thành, tồn tại và phát
triển của Văn học dân gian. Được sáng tác và lưu truyền từ đời này qua đời khác,
nơi này qua nơi khác, chủ yếu bằng phương thức truyền miệng. Chính vì truyền
miệng (lưu giữ trong trí nhớ) cho nên, mỗi người có thể “nhớ” không giống nhau,
cốt lõi là nội dung tác phẩm, còn câu chữ thì không câu nệ. Cũng có khi do là
sáng tác tập thể (không có bản quyền của một tác giả nhất định như văn học viết),
nên nhân dân ta thường coi nó như là sản phẩm chung, mỗi người có thể thêm
thắt, thay đổi ít nhiều theo cách cảm, cách hiểu của riêng mình; hoặc để phù hợp
với địa danh xứ sở mình... Tất cả những khác nhau đó được gọi là dị bản (nhiều
bản khác nhau của cùng một tác phẩm). Ðây là một đặc trưng rất riêng, rất tiêu
biểu chỉ có ở Văn học dân gian mà Văn học trung đại không có được. Ta có thể
điểm qua một số dị bản trong một số bài ca dao:
Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ…
Với câu:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ…
Hoặc:
Đường vô xứ Quảng quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ…
Hay bài:
Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá về đồng ăn cua
Nhưng một hôm, ta lại nghe:
Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
10


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ

Về kinh ăn cá về đồng ăn cua
Lại một hôm, ta nghe:
Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về bưng ăn ốc về đồng ăn cua
Hay như bài:
Dạy con từ thuở còn thơ
Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về
Với bài:
Dạy con từ thuở còn thơ
Dạy vợ từ thuở ban sơ mới về
Trong khi đó, ở Văn học trung đại, các nhà văn, nhà thơ lại sử dụng chữ
viết để sáng tác, thế nên các tác phẩm luôn mang tính cố định, không/ hoặc khó
có tính dị bản như Văn học dân gian.
Một đặc điểm thứ hai tạo sự khác biệt giữa Văn học dân gian và Văn học
trung đại đó chính là: ở Văn học dân gian, các sáng tác thường mang tính tập
thể, cho nên rất khó xác định chính xác tác giả là ai (vô danh). Quá trình sáng
tác tập thể diễn ra như sau: Đầu tiên một người khởi xướng, tác phẩm hình thành
và được tập thể tiếp nhận. Sau đó, những người khác tiếp tục lưu truyền và sáng
tác lại làm cho tác phẩm biến đổi dần, hoàn thiện và phong phú thêm về nội dung
cũng như hình thức nghệ thuật. Văn học dân gian là tài sản chung của tập thể nên
mỗi cá nhân đều có thể sửa chữa, bổ sung tác phẩm theo quan điểm và khả năng
nghệ thuật của mình. Những ví dụ trình bày ở đặc điểm tính truyền miệng cũng
tương quan phần nào với tính tập thể.
Trong khi đó, ở Văn học trung đại, mỗi tác phẩm ra đời đều là một “đứa
con riêng” của tác giả và mang đậm dấu ấn cá nhân của người sáng tác. Vì thế
mà thông qua các tác phẩm của mình, các nhà văn, nhà thơ có thể tạo được
những văn phong riêng, những “chất văn” rất riêng, khó hòa lẫn với các tác giả
khác. Ví dụ, nói đến nữ sĩ Bà Huyện Thanh Quan là nói đến giọng thơ thanh cao,
trang nhã, mang đậm nét hoài cổ; nói đến nhà thơ Nguyễn Công Trứ là nói đến
một giọng thơ “ngất ngưỡng” và có phần “ngông”,…

Điểm khác biệt thứ ba giữa Văn học dân gian và Văn học trung đại đó là
Văn học dân gian là một loại nghệ thuật gắn liền với sinh hoạt của nhân dân.
Nó nảy sinh và tồn tại như một bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân dân. Lúc
bấy giờ, quan điểm thẩm mỹ của cá nhân, của cộng đồng hay nói khác hơn, quan
điểm thời đại của các sáng tác là những gì gần gũi, tự nhiên như chính cuộc sống,
sinh hoạt, lao động hồn nhiên hằng ngày của họ. Do đó sinh hoạt nhân dân chính
là môi trường sống của tác phẩm. Những hình ảnh, tâm tư, cảm xúc… đời thường
đi vào tác phẩm của người bình dân một cách nhẹ nhàng, tự nhiên như chính lời
ăn tiếng nói, cuộc sống, hơi thở của họ. Một số ví dụ:
Khi đang lao động, sinh hoạt như tát nước, chèo thuyền, gặt lúa, giao
duyên…:
11


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
“Cô kia tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”
(Ca dao)
“Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi
Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm”.
(Ca dao)
“Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần…”
(Ca dao)
Bài hát ru gắn với việc ru con ngủ - một hình thức sinh hoạt gia đình;
ngược lại, việc đưa con ngủ thường không thể thiếu lời ru (để cho đứa trẻ có
được giấc ngủ sâu và dài):
“Ầu ơ, ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi
Khó đi mẹ dắt con đi
Con đi trường học, mẹ đi trường đời…”
Hay tương tự: những bài dân ca nghi lễ, các truyền thuyết gắn với tín
ngưỡng, lễ hội…
Nghĩa là Văn học dân gian phản ánh và chịu sự chi phối từ những điều
bình dị, giản đơn trong cuộc sống, khó bó buộc lễ nghi từ những ý thức hệ cao
siêu của chế độ, của giai cấp như trong Văn học trung đại. Từ đặc trưng này mà
Văn học dân gian có tính đa chức năng, trong đó, đặc biệt là chức năng thực hành
sinh hoạt.
Còn ở Văn học trung đại, các tác phẩm vì là được phản ánh qua lăng kính
của cá nhân nên thường gắn liền với hệ tư tưởng – chính trị của thời đại đó.
Chức năng cơ bản của văn học thời kì này là “văn dĩ tải đạo”. Các nhà văn, nhà
thơ đều là vua quan, quý tộc, kẻ sĩ, đều xuất thân từ cửa Khổng sân Trình nên họ
sáng tác văn chương là để đề cao đạo đức phong kiến, chủ yếu là các vấn đề cơ
bản của Nho giáo, là những lời răn dạy của đức Khổng – Mạnh. Đây chính là yếu
tố quan trọng chi phối quan niệm thẩm mỹ về mọi mặt trong các tác phẩm trung
đại. Ví dụ một vài nét:
Ở Văn học dân gian, lòng Nhân, đức nhân là phẩm chất cơ bản của mỗi
con người, vì lòng nhân, con người yêu thương, tôn trọng nhau. Họ dùng chữ
“nhân” để cư xử với nhau một cách rất hợp lẽ thường bởi lẽ những con người
xung quanh ấy chính là người thân – “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, là bà
con láng giềng - “bán bà con xa, mua láng giềng gần”, “tắt lửa tối đèn” có
nhau, là “đồng bào” – cùng một mẹ Âu Cơ sinh ra… Thế nên nó là một vấn đề
đạo đức đơn thuần, bình đẳng giữa mọi người và không hàm chứa bất cứ một
12


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
động cơ chính trị nào. Nó được biểu hiện qua rất nhiều truyện dân gian hay trực

tiếp qua các câu tục ngữ, ca dao:
- Thương người như thể thương thân
- Một con ngựa đau cả tàu bỏ
- Lá lành đùm lá rách
- Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
- Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Còn ở phần lớn các tác phẩm Văn học trung đại, lòng nhân ít nhiều mang
tính quan phương, theo chuẩn mực phong kiến nên nó mặc định là phẩm chất cần
có của người quân tử, người đọc sách thánh hiền. Có thể thấy, từ những tư tưởng
nhân sinh, đạo đức hết sức đời thường của người bình dân trong Văn học dân
gian, bước sang Văn học trung đại, nó lại trở thành những phạm trù đạo đức hết
sức chuẩn mực, chỉ gắn với bộ phận tầng lớp trí thức và có phần không gần gũi
với tư tưởng của người bình dân như trước nữa. Thậm chí, nó không còn nguyên
ý nghĩa bình đẳng cho mọi người mà là sự ban ân của người trên dành cho kẻ
dưới (“Bậc quân tử mà chẳng nhân thì có đấy, chưa có kẻ tiểu nhân mà lại
có nhân vậy” – Khổng Tử).
Mặt khác, lòng nhân theo quan điểm phong kiến không đơn thuần là vấn
đề đạo đức mà gắn liền với địa vị, nghĩa vụ của bậc trượng phu (nhân nghĩa,
nhân chính, chính nhân...). Ví dụ tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Ông cho rằng người nhân nghĩa phải lo trừ “bạo”, tức lo diệt quân cướp
nước. Người nhân nghĩa phải đấu tranh sao cho “hợp trời, thuận người”, nên có
thể lấy “yếu chống mạnh”, lấy “ít địch nhiều”, lấy “đại nghĩa thắng hung tàn”,
lấy “chí nhân thay cường bạo”. Nhân nghĩa là cần phải đấu tranh để cho dân tộc
tồn tại và phát triển. Nhân nghĩa giống như là một phép lạ, làm cho “càn khôn đã
bĩ mà lại thái, trời trăng đã mờ mà lại trong”.
Hay ví dụ về chữ Tiết, Văn học dân gian không nói nhiều về tiết hạnh,

thay vào đó, người bình dân nói nhiều về tình cảm vợ chồng. Không phải là “nam
nữ thụ thụ bất thân” hay “tương kính như tân” mà là sự đồng lòng, đồng tâm:
“Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”
Hay đồng cam cộng khổ:
- Râu tôm nấu với ruột bầu.
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon
- Đi đâu cho thiếp theo cùng.
13


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.
Hay thủy chung, trọn nghĩa vẹn tình:
- Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người
- Yêu nhau chẳng quản đói nghèo
Chiếu rơm, chăn rạ cũng theo anh về
Ta thấy những hình ảnh, chất liệu được đưa vào các sáng tác đều là những
hình ảnh rất đời thường, phản ánh những sinh hoạt cũng rất đời thường, giản dị,
mộc mạc nữa. Khi được nghe như vậy ta sẽ không phải tìm tòi, suy ý kiểu vòng
vo, ám chỉ bóng gió xa xôi mà cảnh tình đã được suy diễn trực tiếp. Đó là bữa
cơm hằng ngày của những đôi vợ chồng nghèo nhưng đồng lòng, yêu thương, đó
là “râu tôm”, “ruột bầu”, “chan”, “húp”, “gật đầu”; đó là tấm “áo rách” của
chồng nhưng vợ vẫn một mực thủy chung; đó là “đói nghèo”, “rơm”, “rạ”
nhưng vẫn một dạ vững bền… Quan hệ vợ chồng của người bình dân được thể
hiện dung dị, bình đẳng, chân phương hơn so những nhà Nho. Chính vì thế, Văn
học dân gian không quá khắt khe với vấn đề tiết hạnh mà đề cao tình nghĩa vợ
chồng, sống có trước có sau.
Còn ở Văn học trung đại thì lại khác, Tiết trở thành một trong những
phẩm chất đạo đức có tính giáo huấn phổ biến, cơ bản đối với người phụ nữ,

người vợ. Họ phải nhất nhất phục tùng ý chồng: “Xuất giá tòng phu”. Người
chồng toàn quyền định đoạt cuộc sống của người vợ. Trong truyện “Chuyện
người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, chỉ vì chuyện hiểu lầm mà Trương
Sinh đã ép vợ vào cái chết oan nghiệt để giữ trọn chữ Tiết. Trong truyện Kiều,
lúc gặp lại Kim Trọng, Thúy Kiều nghĩ mình không đủ tiết hạnh, không xứng
đáng với Kim Trọng nên đã: “Đổi duyên cầm sắt hóa ra cầm kì”. Hay sau này
đến Nguyễn Đình Chiểu cũng nói “Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết
hạnh làm câu trau mình”. Chữ Tiết trong văn học phong kiến không còn là một
phạm trù đạo đức mà trở thành chiếc vòng kim cô trói chặt cuộc đời, hạnh phúc
của người phụ nữ.

2.2.4. Thể loại
Bên cạnh sự khác nhau về thời điểm ra đời, về khái niệm, về đặc trưng thì có
thể nói rằng ở phương diện thể loại cũng là một tiêu chí mà nhóm thấy giữa văn
học dân gian và văn học trung đại có những khác biệt rõ nét. Mặc dù, cả hai bộ
phận văn học nhìn chung có điểm giao thoa trong nhóm thể loại đó là thể loại tự sự
và thể loại trữ tình nhưng mức độ phát triển, chiếm ưu thế giữa hai thể loại này
trong hai bộ phận văn học đã cho ta thấy rõ sự khác biệt cơ bản ấy. Hai thể loại văn
học này sẽ chịu sự chi phối chủ yếu của hai phương thức: phương thức tự sự - thể
loại tự sự; phương thức trữ tình – thể loại trữ tình. Ngoài ra, trong văn học trung đại

14


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
đặc biệt là giai đoạn đoạn đầu cho thấy sự phát triển rầm rộ của thể loại tự sự sử
dụng phương thức chính luận trong các văn bản chiếu, biểu, hịch, cáo.
Trước hết là ở thể loại tự sự - sử dụng phương thức chủ yếu là phương
thức tự sự trong văn học dân gian. Văn học dân gian Việt Nam cũng như văn học
dân gian của nhiều dân tộc khác trên thế giới có những thể loại chung và riêng, hợp

thành một hệ thống rất phong phú. Nhìn khái quát, có thể thấy trong cuốn Văn học
dân dan Việt Nam (Chu Xuân Diên) đã chia ra thành bốn thể loại lớn: Lời ăn tiếng
nói hằng ngày của nhân dân; Các thể loại tự sự dân gian; Thể loại trữ tình dân
gian và Sân khấu dân gian. Từ bốn thể loại trên, chúng ta có thể đạt chia ra thành
hai nhóm phương thức biểu đạt chính là tự sự (tự sự dân gian) và trữ tình (trữ tình
dân gian và sân khấu dân gian).
Trong văn văn học dân gian Việt Nam, phương thức biểu đạt của nó chủ yếu là
truyện và vè. Truyện dân gian thường là văn xuôi nhưng cũng có khi là văn vần.
Còn vè bao giờ cũng là văn vần. Nhưng sự khá biệt giữa truyện và vè chủ yếu là ở tỉ
lệ nhiều hay ít của phần hư cấu, ở mức độ nhiều hay ít của tính khái quát. Vè trước
hết muốn nói về người thực việc thực, muốn phản ánh cuộc sống trong từng nơi,
từng lúc với những nét rất tỉ mỉ cụ thể. Còn truyện thì lại mang nặng về hư cấu ngay
cả khi tác giả dân gian định nói về người thực việc thực như trong truyện cổ tích
lịch sự chẳng hạn.
Bộ phận văn học dân gian, phương thức tự sự còn thể hiện rất nhiều trong
các thể loại truyện: thần thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười.
Nhưng không phải các thể loại ấy xuất hiện cùng lúc với nhau mà đa số mỗi thời kì
sẽ có một thể loại phát triển mạnh. Chẳng hạn:
Thần thoại (tác phẩm tự sự dân gian) xuất hiện từ thời nguyên thủy. đến
thời Văn Lang, Âu Lạc, khi có hình thức sơ khai của nhà nước, khi dần dần có sự
xuất hiện của các thị tộc, bộ lạc thì những thần thoại của những địa phương khác
nhau cũng dần được kết hợp lại và thành hệ thống phản ánh sự phôi thai của dân
tộc. Những hệ thống ấy được kết tinh dưới hình thức những áng sử thi mà người ta
hát lên với những nghi thức nhất định. Và được chia thành các nhóm khác nhau:
Ví dụ:
- Thần thoại suy nguyên luận gồm những truyện kể nhân cách hóa và giải
thích nguồn gốc vũ trụ: Thần Trụ Trời, Nữ Thần Mặt Trời, Sơn Tinh – Thủy Tinh,…
- Nhóm thần thoại lịch sử gồm những truyện kể về nguồn gốc dân tộc: Lạc
Long Quân Âu Cơ, Quả Bầu tiên. Sự nghiệp dựng nước và giữ nước: Thần Tản
Viên, Ông Gióng, An Dương Vương,…

Truyện cổ tích (tác phẩm tự sự dân gian) phát triển nhất trong thời kì chế
độ phong kiến, cũng có những truyện cổ tích bắt nguồn từ thần thoại. Nhưng dầu có
nguồn gốc như thế nào đi chăng nữa thì truyện cổ tích vẫn phản ánh chủ yếu trong
xã hội phong kiến và cuộc đấu tranh giữa nhân dân với chế độ. Truyện cổ tích lưu
hành trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ nhằm mang tính chất văn nghệ.
15


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
Ví dụ: Sọ Dừa, Lấy chồng Dê, Lấy vợ Cóc, tấm Cám, Thạch Sanh, Người
thiếu phụ Nam Xương,…
Truyện ngụ ngôn (tác phẩm tự sự dân gian ngắn) phát triển đồng thời với
truyện cổ tích, khi tư duy phát triển tới trình độ phân biệt được ý niệm trừu tượng ở
đằng sau sự tích cụ thể, khi nhân dân cảm thấy cần sử dụng đến một thức vũ khí
thích hợp để có thể tiến công vào giai cấp thống trị mà có thể bảo vệ được người sử
dụng vũ khí ấy.
Ví dụ: Con Hổ, con Trâu và người đi cày, Xẩm xem voi,…
Tuy nhiên, do tầm ảnh hưởng qua lại nên hai thể loại tự sự dân gian (Truyện
cổ tích và Truyện ngụ ngôn) đã bị pha trộn lẫn nhau, không phan biệt rạch ròi.
Truyện cười (tác phẩm tự sự dân gian ngắn) được phát triển khi giai cấp
phong kiến dần suy vong. Truyện cười hình thành để phản ánh bản chất xấu xa của
xã hội để vạch rõ hơn bản chất xấu xa ấy. Căn cứ vào tính chất đáng cười (hay
hiện tượng đáng cười) và tính chất của cái cười, người ta chia thành hai tiểu
loại: hài hước (khôi hài) và châm biếm (trào phúng).
Ví dụ:
- Hài hước: Bốn cẳng, sáu cẳng, Treo biển,…
- Châm biếm: Thơm rồi lại thối, quan huyện thanh liêm, Nhưng nó lại phải
bằng hai mày,…
Truyền thuyết dả sử (tác phẩm tự sự dân gian) vốn có nghĩa là những điều
được truyền lại từ đời trước qua cửa miệng các thế hệ. Danh từ truyền thuyết bao

hàm cái ý cho rằng vì truyền miệng cho nên không chính xác. Còn danh từ dả sử có
ý nghĩa tương tự như danh từ truyền thuyết nhưng không bao hàm về mức độ chính
xác. Ở nước ta, truyền thuyết từ lâu đã được ghi chép thành văn bản. Ngay từ thời
Bắc thuộc, một số tác giả phương Bắc đã ghi chép lại một số truyền thuyết từ
thời Hùng Vương của ta qua sách Giao Châu ngoại vực kí (thế kỉ IV), Nam Việt
chí (thế kỉ V), còn sưu tầm của tác giả người Việt thì có đề cập đến Báo cựu
truyện, Ngoại sử kí, Việt Điện U linh và Lĩnh Nam Chích Quái đều được viết từ
thế kỉ thứ X đến thế kỉ XV.
Khi nói đến thể loại tự sự dân gian bằng văn vần, thì ngoài vè ra, người ta
còn nói đến sử thi, anh hùng ca, tráng sĩ ca, diễn ca.. Tất cả những điều đó đều
để gọi là thể loại tự sự dân gian của lịch sử khi loài người bắt đầu bước vào xã
hội văn minh.
Thể loại tự sự trong văn học trung đại
Trong khi đó, văn học viết Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX là nền
văn học tồn tại và phát triển trong xã hội phong kiến. Tuy hình thành sau Văn
học dân gian nhưng đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Nhìn chung, Văn học
Việt Nam thời kì trung đại gồm hai thành phần chủ yếu là văn học chữ Hán và văn
học chữ Nôm, giai đoạn cuối thì có xuất hiện văn học chữ quốc ngữ nhưng thành
tựu chưa đáng kể.
16


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
Trong thời kì văn học đầu (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV), thể loại tự sự cũng
rất phát triển. Tuy nhiên, đại đa số là do vay mượn và tiếp thu từ Trung Hoa như:
Truyện truyền kì, kí sự, tiểu thuyết chương hồi,… Cho đến khỏang thế kỉ XIII thì
bắt đầu hình thành chữ Nôm, hiện tượng song ngữ trong một thời kì trung đại đã
mang cho Văn học viết một bước tiến mới trong thể loại tự sự qua sự ảnh hưởng
của các nhà thơ trong triều đình, mang hệ tư tưởng mới lạ và cách tân từ những thứ
vay mượn, song song đó vẫn kế thừa và phát huy văn học dân tộc qua các thể loại

khác để hình thành nên thể loại tự sự: ngâm khúc viết theo thể song thất lục bát,
truyện thơ viết theo thể lục bát, hát nói theo thể thơ khá tự do kết hợp với âm
nhạc,… Cũng trong những giai đoạn đầu của thời kì (thế kỉ X đến thế kỉ XIV), thì
thể loại có sự đổi mới từ Trung Hoa, qua thể loại văn chính luận, nhằm mục đích
phục vụ cho chính trị.
Ví dụ: Chiếu dời đô (Lý Công Uẩn), Hịch tướng sĩ (Trần Quấc Tuấn), Đại
Việt Sử kí (Lê Văn Hưu), Việt điện u linh tập (Lí Tế Xuyên),…
Qua giai đoạn thứ 2, từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII thì văn học có bước phát
triển vượt bậc, chính là nhờ những thành tựu của chữ Nôm, Văn học viết lúc bấy
giờ xuất hiện hiện tượng “văn - sử - triết bất phân” khá đậm trong thơ Lí – Trần và
mờ nhạt dần từ thế kỉ thứ XV, khi xuất hiện nhiều tác phẩm mang tính chất văn
chương tự sự. Văn học giai đoạn này, từ nội dung mang âm hưởng ngợi ca đến phê
phán hiện thực xã hội phong kiến. Và cũng từ đây, tác giả cá nhân cũng đã phỏng
lại và sáng tác các tác phẩm tự sự mới trên cái nền dân gian có sẵn, nhằm mục
đích phản ánh hiện thực cuộc sống qua những yếu tố kì ào, hoang đường. Rõ nét
nhất là có sự hiện hữu lại khá giống qua Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Trong
Truyền kì mạn lúc có Chuyện người con gái Nam Xương (Văn học dâng gian có
Người thiếu phụ Nam Xương, Chuyện chức phán sự đền Tàn Viên (Văn học dâng
gian có Thần Tản Viên),…
Đến giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, do có sự ảnh hưởng,
vay mượn và tiếp thu từ nhiều hướng khác nhau, cho nên đã phát triển mạnh về cả
văn xuôi và văn vần: Truyện thơ Nôm, Khúc ngâm, kí, tùy bút,… Cho đến khi
giai đọan nửa cuối thế kỉ XIX thì xuất hiện thể loại văn xuôi tự sự bằng chữ quốc
ngữ (Truyện Thầy La-za-rô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, Chuyến đi Bắc Kì năm
Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký,…)
Tóm lại, văn học viết Việt Nam nhiều hình tượng nhân vật trong thể loại tự
sự của Truyền kì mạn lục, Truyền kì tân phả, Thánh Tông di thảo, Thiên Nam
ngữ lục, của những truyện Nôm Phương Hoa, Tống Trân – Cúc Hoa, Phạm Tải
– Ngọc Hoa ,… vốn đã có sự tương đồng với thể loại tự sự dân gian.
Tiếp đến là thể loại trữ tình – sử dụng phương thức biểu đạt chủ yếu là

phương thức trữ tìn. Trước hết thể hiện trong văn học dân gian.
Sinh họa văn học dân gian có một bộ phận quan trọng là sinh hoạt ca hát (trữ
tình). Sinh hoạt dân gian có thể bao gồm cả việc diễn xướng những tác phẩm tự sự,
như các tác phẩm thuộc thể loại sử thi, truyện cổ tích, nhất là vè. Nhưng khi nói đến
17


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
sinh hoạt ca hát dân gian thì người thường nghĩ ngay đến việc diễn xướng ca dao,
dân ca. Trong ca dao, dân ca cũng có đan xen những tác phẩm tự sự, nhưng đại
đa số là tác phẩm trữ tình, và trong sinh hoạt ca hát dân gian, càng về sau này
những tác phẩm mang tính chất trữ tình chiếm đại đa số.
Đứng về mặt văn học mà nhận định, thể loại trữ tình (ca dao – dân ca), khi
chúng ta tước bỏ những tiếng đệm, tiếng láy, những câu láy của một bài dân ca, thì
chúng ta thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Do dó, người ta có thể
nói: giữa ca dao và dân ca ranh giời không rõ ràng.
Ví dụ:
Dân ca
Hát trống quân của miền Bắc:
Trống quân, trống quýt, trống còi,
Ta chẳng lấy nó, nó đòi lấy ta.
Trống quân anh đánh nhịp ba,
Lúc vào nhịp bảy, lúc ra nhịp mười.
Hát dân chài:
Cơm chiên ăn với cá ve,
Em về nốc biển mà nghe câu hò!
Thuyền về tới bến canh khuya,
Còn câu tình nghĩa để dành đêm sau.
Ca dao
Thiếp than phận thiếp còn thơ,

Lấy chồng xa xứ bơ vơ một mình.
Tiếc thay cái tấm lụa đào,
Áo rách chẳng vá, vá vào áo tơi.
Trời ơi có thấu chăng trời?
Lụa đào mà vá, áo tơi sao đành.
Về ca dao – dân ca cũng như văn học Việt Nam nói chung và văn học trung
đại Việt Nam nói riêng, nội dung chủ yếu của nó là trữ tình, nó là kết tinh của cả
bốn nghìn năm văn hóa văn nghệ dân tộc, nên nó làm một “khuôn vàng thước ngọc”
cho nhiều thi nhân trong sáng tác sau này. Vì thế, mà tính trữ tình trong ca dao –
dân ca ảnh hưởng khá lớn.
Thể loại trữ tình trong văn học trung đại
Giai đoạn văn học trung đại Việt nam, thể loại trữ tình chủ yếu được nhìn
qua thơ. Nó phát triển mạnh do có sự tiếp thu từ Trung Hoa (thơ Đường). Song
song đó, cũng có phần ảnh hưởng rất lớn từ văn học dân gian Việt Nam. Thể loại
thơ trữ tình đã được nhà thơ Nguyễn Trãi - nhà thơ dân tộc lớn đầu tiên của
nước ta, thể hiện rất rõ tập thơ chữ Hán “Ức Trai thi tập”, và ông cũng đã để lại cho
đời một tập thơ Nôm bề thế là “Quốc âm thi tập”. Trong tập thơ quý này, chúng ta
thấy thi hào đã vận dụng thuần thục lời ăn tiếng nói dân gian, từ thành ngữ, tục ngữ,
18


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
ca dao - dân ca, đến các hình ảnh hình tượng trong văn học dân gian mang đậm nét
trữ tình của thi nhân.
Ví dụ:
Ca dao có câu:
Số giàu đem đến dửng dưng,
Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.
Trong tập thơ trên, Nguyễn Trãi cũng có những câu:
Sang cùng khó bỡi chưng trời

Lăn lóc làm chi cho nhọc hơi
Đựợc thua, phú quý dầu thiên mệnh
Chen chóc làm cho cho nhọc nhằn.
Ca dao có câu:
Còn duyên như tượng tô vàng,
Hết duyên như ổ ong tàn gặp mưa.
Và:
Còn duyên đóng cửa kén chồng,
Hết duyên cất quán ngồi trông bộ hành.
Quốc âm thi tập có câu:
La ỷ dập dìu hàng chợ họp,
Cửa nhà bịn rịn tổ ong tàn.
Ca dao có câu:
Thật vàng chẳng phải thau đâu,
Đừng đem thử lửa mà đau lòng vàng.
Quốc âm thi tập có câu :
Ngọc lành nào có tơ vết,
Vàng thật âu chi lửa thiêu.
Trong nhiều bài thơ, Nguyễn Trãi đã sử dụng khá nhiều tục ngữ, thành ngữ để
tăng thêm tính trữ tình:
Ở bầu thì dáng ắt nên tròn
Xấu tốt đều thì lắp khuôn
Lân cận nhà giàu , no bữa cốm
Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn
Chơi cùng đứa dại nên bầy dại
Kết với người khôn học nết khôn
Ở đằng thấp thì nên đằng thấp
Đen gần mực, đỏ gần son.
Đọc bài thơ này chúng ta dễ dàng nhận thấy Nguyễn Trãi đã vận dụng sáng tạo
nhiều tục ngữ:

- Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài
Ở gần nhà giàu đau răng ăn cốm
Ở gần kẻ trộm ốm lưng chịu đòn
19


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
- Gần mực thì đen gần đèn thì sáng
Chính vì thế, thể loại trữ tình đã được đúc kết từ những kinh nghiệm mà
Nguyễn Trãi nêu ra trong bài thơ rất gần gũi với dân gian, dễ được nhân dân tiếp
nhận và qua đó phản ánh cốt cách thân dân của nhà yêu nước vĩ đại xứng danh
“Kinh bang hoa quốc cổ vô tiền” này.
Thể loại trữ tình còn được thể hiện qua nhà thơ lớn của thời kì toàn thịnh
của văn học chữ Nôm (nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX), Nguyễn Du và
Hồ Xuân Hương ngoài việc ảnh hưởng của nền văn học nước ngoài thì cũng đã thể
hiện rất tài tình, sáng tạo ngôn ngữ và hình tượng nghệ thuật văn học dân gian và
ngược lại nhân dân cũng mượn nhiều câu trong Truyện Kiều kiệt tác của Nguyễn
Du và trong thơ Hồ Xuân Hương, hoặc để nguyên hoặc sửa đi ít nhiều, để đối đáp,
gửi gắm tâm sự của mình:
Thương nhớ người xa vắng, ca dao có câu:
Ai đi muôn dặm non sông,
Để ai chất chứa sầu đong vơi đầy
Nói về tâm sự kẻ ở người đi, nỗi chia li ray rứt, ca dao có câu:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng
Truyện Kiều cũng có những câu:
“Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”
Và:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,

Nửa in gối chiến nửa soi dặm trường.
Khảo sát hệ thống từ ngữ Truyện Kiều và Văn chiêu hồn chúng ta thấy
Nguyễn Du đã học tập vận dụng rất nhiều từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ dân gian. Mặt
khác Nguyễn Du học tập cách tổ chức ngôn ngữ trong thành ngữ và tục ngữ để tạo
ra những kết cấu ngôn ngữ như những thành ngữ, tục ngữ. Có những trường hợp
thật khó phân biệt đâu là thành ngữ, tục ngữ Nguyễn Du học của quần chúng, đâu là
đơn vị từ ngữ do Nguyễn Du tạo ra:
Ra tuồng mèo mả gà đồng,
Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào.
Bề ngoài thơn thớt nói cười ,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Ở đây tai vách mạch dừng,
Gặp ai người cũ cũng đừng nhìn chi.
Đặc biệt, Truyện Kiều có những câu thơ không thấy dấu vết cụ thể của ca dao
dân ca nhưng trong hơi hướng ai cũng nhận ra ảnh hưởng của chúng. Chính trường
hợp này mới là sự đồng hoá cao nhất, là sử dụng ca dao dân ca một cách nhuần
nhuyễn của nhà thơ :
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
20


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng
Duyên em dù nối chỉ hồng
May ra khi đã tay bồng tay mang
Tấc lòng cố quốc tha hương
Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời
Ngoài ra, tính chất trữ tình trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ và lời ăn, tiếng
nói hằng ngày đi vào thơ Nguyễn Du, trở thành của Nguyễn Du chan hoà tan biến
trong phong cách của nhà thơ. Từ Truyện Kiều các nhân vật Thuý Kiều , Kim Trọng

đã đi vào đời sống nhân dân rộng lớn, hòa quyện qua lại với nhau tại nên hồn thơ
trữ tình chung của dân tộc. Cô gái đồng quê đã có thể ví có thể biểu lộ tâm trạng
mình bằng câu ca .
Sen xa hồ, sen khô, hồ cạn .
Liễu xa đào, liễu ngả, đào nghiêng.
Em xa anh như bến xa thuyền
Như Thuý Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi.
Sự giống nhau trong thơ Hồ Xuân Hương, “bà chúa thơ Nôm”, cũng học tập
truyền thống ngôn ngữ và nghệ thuật ở thành ngữ ,tục ngữ, ca dao một cách đậm nét
và giàu sáng tạo.
Hình ảnh “Quả cau nho nhỏ - cái vỏ vân vân” được Hồ Xuân Hương đưa vào
bài thơ “Mời trầu” một cách duyên dáng, tinh tế:
Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi,
Này của xuân Hương mới quệt rồi.
Hồ Xuân Hương làm trạng sư biện hộ cho người phụ nữ “lỡ dại” “Cả nể cho
nên hoá dở dang…….Không có nhưng mà có mới ngoan” cũng bằng những lí lẽ bắt
nguồn từ văn học dân gian “Không chồng mà chửa mới ngoan, Có chồng mà chửa,
thế gian sự thường”. Những thành ngữ “nòng nọc đứt đuôi”, “cóc bôi vôi”, “chịu
đấm ăn xôi”, “làm mướn không công” đều về ý hoặc về lời, được sử dụng đắc và
sáng tạo trong thơ Hồ Xuân Hương:
- Cố đấm ăn xôi , xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn , mướn không công (Làm lẽ)
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi. (Khóc Tổng Cóc)
Hồ Xuân Hương đã chọn ở tục ngữ, ca dao rất nhiều câu chua cay mai mỉa
cuộc đời. Bà còn vận dụng cả nghệ thuật câu đố (dấu ấn trong văn học dâng gian)
để diễn đạt nội dung trữ tình làm cho thơ bà bóng bẩy, hàm súc, đa nghĩa, đa trị.
Tóm lại, hơn mười thế kỉ hình thành và phát triển, bộ phận văn học thành văn
Việt Nam đã gắn bó song hành và chịu ảnh hưởng, tác động qua lại giữa các phương
thức tự sự, trữ tình sâu sắc của văn học dân gian Việt Nam trên nhiều cấp độ,

phương diện. Chính điều đó đã tạo nên tính nhân dân và tính dân tộc đậm đà cho bộ
phận văn học này. Mặt khác, chính các nhà thơ, nhà văn đã góp phần không nhỏ vào
việc nâng cao chất lượng của các sáng tác dân gian. Nhiều tác phẩm của họ được
21


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
dân gian hoá, làm phong phú thêm kho tàng văn học dân gian các dân tộc. Các tác
giả dân gian cũng học tập được nhiều điều bổ ích từ sáng tác của các nhà văn nhà
thơ chuyên nghiệp. Họ đã khai thác không ít điển cố, điển tích, từ ngữ , hình ảnh…
trong văn học viết để đưa vào các bài vè, câu hát …. Làm nên sự giống nhau, tác
động qua lại giữa hai bộ phận văn học rất khắng khít và lâu bền.

22


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ

Chương 3: MỐI LIÊN HỆ GIỮA VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN
HỌC TRUNG ĐẠI
3.1. Văn học dân gian tác động đến văn học trung đại
Trong tiến trình lịch sử văn học, luôn diễn ra quá trình nối tiếp, kế thừa và
phát triển những thành tựu giữa các nền văn học, các giai đoạn, các trào lưu văn
học với nhau. Thậm chí kế thừa, tiếp nối và cách tân đó còn thể hiện ở từng tác
giả trong cùng một trào lưu hay một dòng văn học. Có thể khẳng định rằng quy
luật của kế thừa và cách tân là quy luật sinh thành và phát triển của bất cứ nền
văn học nào. Cho nên mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết Việt
Nam, cụ thể ở đây là xét ở thời kì văn học Trung đại cũng có mối quan hệ biện
chứng như vậy. Trong quá trình phát triển, văn học trung đại Việt Nam chịu sự
chi phối rất đậm nét của văn học dân gian. Văn học dân gian là cội nguồn gần

gũi trực tiếp nhất ảnh hưởng đến văn học trung đại. Chính văn học dân gian đã
trở thành nguồn mạch mát lành nuôi dưỡng cho nền văn học viết Việt Nam ngày
càng khởi sắc. Văn học dân gian và văn học trung đại tuy là hai bộ phận văn học
có phương thức sáng tác khác nhau nhưng lại có quan hệ gắn bó rất mật thiết. Từ
góc độ văn học dân gian, các nhà nghiên cứu có tên tuổi như: Đinh Gia Khánh,
Chu Xuân Diên, Cao Huy Đỉnh, Đỗ Bình Trị, Hoàng Tiến Tựu, Kiều Thu Hoạch,
Vũ Ngọc Khánh,… đều nhất trí cho rằng trong mối quan hệ với văn học trung đại
Việt Nam thì văn học dân gian đóng vai trò là ngọn nguồn, là nền tảng. Trong
một bài viết của mình, nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch đã từng khẳng định:
“Kho tàng truyện kể dân gian có vai trò và ảnh hưởng to lớn đến sự hình thành và
phát triển thể loại văn học tự sự về nhiều mặt. Có thể nói kho tàng truyện kể dân
gian chính là một trong những nguồn suối trong mát đã nuôi dưỡng cho khu
vườn tự sự Việt Nam mãi mãi xanh tươi”. Tìm hiểu tác động ngược lại của văn
học trung đại đối với văn học dân gian, các nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc, Đặng
Thanh Lê, Phan Ngọc,… chỉ ra tác động của văn học trung đại đối với việc tạo
nên chất liệu, nguồn cảm hứng làm cho một số hình thức biểu hiện của văn học
dân gian được nâng cao lên tầm cao mới. Cụ thể của mối quan hệ biện chứng
này, nhóm xin được xét mối liên hệ giữa văn học dân gian và văn học trung đại
Việt Nam trên các phương diện: nội dung (chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân
đạo, cảm hứng thế sự), nghệ thuật (hình ảnh, ngôn ngữ, thể loại)

3.1.1. Nội dung
Ở phương diện nội dung, có thể nói rằng chủ đề về tình yêu quê hương đất
nước giống như sợi chỉ đỏ xuyên suốt nền văn học dân tộc, để từ đó kết tinh
thành chủ nghĩa yêu nước – một nội dung cơ bản của nền văn học. Từ thuở
hồng hoang, tạo dựng cương vực, mở mang bờ cõi, những tác phẩm văn học dân
gian thể hiện tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc đã góp
23



Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
phần nuôi dưỡng tâm hồn mỗi chúng ta, đặc biệt là ở thể loại truyền thuyết và ca
dao. Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”, “An Dương Vương và Mị Châu –
Trọng Thủy”, “Thánh Gióng” là những minh chứng hùng hồn cho lịch sử dựng
nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc. Còn thơ ca dân gian đặc biệt là ca dao với
những lời ca đằm thắm, ngọt ngào, da diết đậm chất trữ tình ca ngợi cảnh đẹp của
quê hương đất nước, ca ngợi truyền thống, vốn văn hóa dân tộc đã đi vào lòng
người một cách tự nhiên:
“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”
(Ca dao)
“Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”
(Ca dao)
“Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về”
(Ca dao)
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba
Dù ai buôn bán gần xa
Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười”
(Ca dao)
Trong giai đoạn văn học trung đại, yêu nước gắn liền với tư tưởng “trung
quân, ái quốc” (Trung với vua là yêu nước). Tuy nhiên, tư tưởng yêu nước có
tính đặc thù này không tách rời với truyền thống yêu nước của dân tộc. Chủ
nghĩa yêu nước biểu hiện phong phú, đa dạng, là âm điệu hào hùng khi đất nước
có giặc ngoại xâm, là âm hưởng bi tráng lúc nước mất nhà tan, là giọng điệu thiết
tha khi đất nước trong cảnh thanh bình thịnh trị. Như vậy, đến với văn học trung
đại, chủ nghĩa yêu nước vẫn là nguồn cảm hứng bất tận cho thi nhân. Đặc biệt là
thời đại Lí Trần đầu đời hậu Lê đã tạo nên một mốc son chói lọi trong lịch sử

dựng – giữ nước và cũng đã tạo nên một thời kì với nội dung yêu nước mang âm
hưởng ngợi ca thật hào hùng trong văn học như thơ của Lí Thường Kiệt, Trần
Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Trần Quang Khải, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tôn….
“Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lại xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại thư”
(Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt)
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục bắc nam cũng khác
24


Sự khác biệt VHDG - VHTĐ
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
(Đại cáo bình Ngô – Nguyễn Trãi)
Bước sang giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVI đến nửa đầu thế kỉ XIX, trước
những biến động dữ dội của xã hội, văn chương Trung đại hướng về tiếng nói
nhân đạo là chủ yếu nhưng âm hưởng yêu nước vẫn còn qua những sáng tác của
bà Huyện Thanh Quan mang âm hưởng hoài cổ, hay cuối thế kỉ XIX khi Pháp
vào xâm lược, trước cảnh nước mất nhà tan, nhà văn nhà thơ tập trung thể hiện
tình yêu quê hương đất nước trong cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, làng
quê thanh bình như thơ của Nguyễn Khuyến, hay hướng đến sự ca ngợi, cổ vũ
tinh thần xung trận cũng như cảm thương trước những tổn thất, hi sinh của cuộc
chiến qua thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu.

Cùng với chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo cũng là nội dung lớn
cho thấy sự ảnh hưởng của văn học dân gian đến văn học trung đại. Tiếp thu từ
chính mạch ngầm của truyền thống nhân đạo dân tộc trong văn học dân gian, chủ
nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại cũng được biểu hiện phong phú, đa dạng
như tình thương đối với con người; Lên án tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp
lên con người; Khẳng định, đề cao, ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con.
Nếu trong văn học học dân gian đặc biệt là thể loại ca dao thuộc về than thân,
người bình dân có một khối lượng lớn những lời ca than thân trách phận bọt bèo,
hẩm hiu mà phần lớn là lời của người phụ nữ thể hiện qua mô típ “Thân em”:
“Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt sa ruộng cày”
“Thân em như miếng cau khô
Người thanh tham mỏng, người thô tham dày”
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
“Thân em như củ ấu gai
Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen
Ai ơi nếm thử mà xem
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”
“Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”
Hay:
“Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng, tiếng khóc nỉ non”
Sở dĩ, trong số những lời ca than thân của người bình dân thì lời người phụ
nữ chiếm phần lớn như vậy có lẽ vì trong xã hội xưa, người phụ nữ luôn ý thức
được thân phận của mình – là nạn nhân của chế độ “phụ hệ”, của tư tưởng “trọng
25



Lập bảng so sánh văn học dân gian và văn học viết

09/09/2021 Ngữ văn