Tại sao bị viêm phổi

Liệu pháp kháng sinh là phương pháp điều trị chính cho bệnh viêm phổi mắc phải tại cộng đồng. Điều trị thích hợp bao gồm bắt đầu dùng kháng sinh theo kinh nghiệm càng sớm càng tốt, tốt nhất là 8 giờ sau khi xuất hiện. Bởi vì sinh vật khó xác định, chế độ kháng sinh theo kinh nghiệm được lựa chọn dựa trên các mầm bệnh có thể xảy ra và mức độ nghiêm trọng của bệnh tật. Các hướng dẫn đồng thuận đã được phát triển bởi nhiều tổ chức chuyên nghiệp; một hướng dẫn được sử dụng rộng rãi được trình bày chi tiết trong bảng Viêm phổi cộng đồng mắc phải ở người lớn Viêm phổi cộng đồng ở người lớn

[Xem thêm Hướng dẫn lâm sàng của Hiệp hội bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ về bệnh viêm phổi mắc phải ở cộng đồng]. Các hướng dẫn phải được điều chỉnh cho phù hợp với các mô hình mẫn cảm tại địa phương, công thức thuốc và hoàn cảnh của từng bệnh nhân. Nếu mầm bệnh sau đó được xác định, kết quả của thử nghiệm tính nhạy cảm với kháng sinh có thể giúp hướng dẫn bất kỳ thay đổi nào trong liệu pháp kháng sinh.

Đối với trẻ em, điều trị phụ thuộc vào độ tuổi, tình trạng tiêm phòng trước đó, điều trị ngoại trú hay nội trú. Đối với điều trị ngoại trú, điều trị được quyết định theo tuổi:

  • < 5 tuổi: Amoxicillin hoặc amoxicillin/clavulanate thường là thuốc được lựa chọn. Nếu dịch tễ học gợi ý một mầm bệnh không điển hình cũng như căn nguyên và bằng chứng lâm sàng phù hợp, có thể thay bằng một macrolide [ví dụ như azithromycin hoặc clarithromycin]. Một số chuyên gia đề xuất không sử dụng kháng sinh nếu các đặc điểm lâm sàng gợi ý nhiều đến viêm phổi do virus.

  • ≥ 5 tuổi: Amoxicillin hoặc [đặc biệt nếu không thể loại trừ được một mầm bệnh không điển hình] amoxicillin cộng với macrolide. Amoxicillin/clavulanate là một lựa chọn thay thế. Nếu nguyên nhân là một mầm bệnh không điển hình, chỉ cần dùng macrolide đơn độc.

Đối với trẻ em được điều trị nội trú, liệu pháp kháng sinh có xu hướng phổ rộng hơn và phụ thuộc vào các mũi tiêm chủng trước đó của trẻ:

  • Tiêm chủng đấy đủ [chống lại S. pneumoniae và H. influenzaeloại b]: Ampicillin hoặc penicillin G [lựa chọn thay thế là ceftriaxone hoặc cefotaxime]. Nếu nghi ngờ MRSA, thêm vancomycin hoặc clindamycin. Nếu không thể loại trừ một mầm bệnh không điển hình, một macrolide được thêm vào.

  • Không được chủng ngừa đầy đủ: Ceftriaxone hoặc cefotaxime [thay thế là levofloxacin]. Nếu nghi ngờ MRSA, thêm vancomycin hoặc clindamycin. Nếu không thể loại trừ một mầm bệnh không điển hình, một macrolide được thêm vào.

Với điều trị theo kinh nghiệm, 90% bệnh nhân viêm phổi do vi khuẩn được cải thiện. Sự cải thiện được thể hiện bằng giảm ho và khó thở, hạ sốt, giảm đau ngực, và giảm lượng bạch cầu máu. Nếu tình trạng không cải thiện cần nghĩ đến

  • Một căn nguyên vi sinh vật bất thường

  • Sự đề kháng với kháng sinh đã được sử dụng để điều trị

  • Đồng nhiễm hoặc bội nhiễm với một tác nhân lây nhiễm thứ 2

  • Một tổn thương tắc nghẽn trong phế quản

  • Ổ di bệnh nhiễm trùng [trong trường hợp nhiễm phế cầu khuẩn]

  • Không tuân thủ điều trị [trong trường hợp bệnh nhân ngoại trú]

Nếu không thể xác nhận được một trong những trường hợp trên, sự thất bại điều trị có thể là do các biện pháp bảo vệ của cơ thể không đầy đủ. Khi điều trị thất bại, hội chẩn với chuyên gia hô hấp và/hoặc chuyên gia về bệnh truyền nhiễm.

Điều trị bằng thuốc kháng vi-rút có thể được chỉ định cho một số trường hợp viêm phổi do virus. Ribavirin không được sử dụng thường xuyên cho bệnh viêm phổi RSV ở trẻ em hoặc người lớn, nhưng có thể được sử dụng ở trẻ em có nguy cơ cao < 24 tháng.

Oseltamivir 75 mg uống 2 lần/ngày hoặc zanamivir 10 mg hít 2 lần/ngày trong vòng 48 giờ kể từ khi bắt đầu triệu chứng và trong 5 ngày làm giảm thời gian và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng ở bệnh nhân bị nhiễm cúm. Ở những bệnh nhân nhập viện vì nhiễm cúm, nghiên cứu quan sát cho thấy lợi ích thậm chí 48 giờ sau khi khởi phát triệu chứng.

Acyclovir 5 đến 10 mg/kg tiêm tĩnh mạch 8 giờ một lần cho người lớn hoặc 250 đến 500 mg/m2 diện tích bề mặt cơ thể, tiêm tĩnh mạch 8 giờ một lần cho trẻ em được khuyến cáo đối với nhiễm trùng phổi do varicella. Mặc dù viêm phổi do vi rút đơn thuần xảy ra, nhưng tình trạng nhiễm trùng do vi khuẩn bội nhiễm vẫn phổ biến và cần dùng kháng sinh chống lại S. pneumoniae, H. influenzae và S. aureus.

Chụp X-quang theo dõi nên được thực hiện sau 6 tuần điều trị ở bệnh nhân > 35; sự tồn tại dai dẳng của một thâm nhiễm 6 tuần làm tăng nghi ngờ về bệnh lao hoặc một tổn thương nội mô, có thể ác tính.

Ngày nay, hệ hô hấp của bạn rất dễ bị tấn công bởi những tác nhân ở xung quanh ta. Một trong những bệnh lý nhiều người đang gặp phải đó là viêm phổi, chúng còn được biết đến là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới. Tuy nhiên không ai phải cũng nắm được các triệu chứng đặc trưng của căn bệnh này cũng như cách chăm sóc sức khỏe để hạn chế nguy cơ mắc bệnh.

1. Bệnh viêm phổi

Nhìn chung, khá nhiều người từng mắc căn bệnh này, nếu bạn không phát hiện và điều trị kịp thời, tình trạng sức khỏe sẽ suy giảm nhanh chóng. Vậy bệnh viêm phổi là gì và có ảnh hưởng như thế nào tới sức khỏe?

Theo nghiên cứu, đây là loại bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới, khi mắc bệnh, có thể nhu mô phổi sẽ bị tổn thương. Nghiêm trọng hơn, toàn bộ phổi của bệnh nhân đều bị tổn thương và ảnh hưởng lớn tới sức khỏe.

Bệnh viêm phổi hay còn được gọi là tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp dưới.

Người bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới gặp phải tình trạng không đủ oxy, khó thở, điều này khiến cuộc sống sinh hoạt thường ngày trở nên khó khăn hơn. Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do phổi bị tổn thương, các túi khí trở nên tắc. Hậu quả là quá trình trao đổi khí kém hiệu quả hơn so với bình thường. Khi bị viêm phổi, người bệnh nên đi khám và tích cực điều trị, tránh những ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và tính mạng.

2. Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao

Một trong những vấn đề được mọi người quan tâm đó là những ai có nguy cơ nhiễm bệnh cao? Bất cứ ai cũng có thể trở thành bệnh nhân nếu không biết cách chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, đặc biệt là hệ hô hấp. Vì vậy, bạn nên chủ động tìm hiểu và ngăn ngừa nguy cơ lây nhiễm nhé!

Bất cứ ai có cũng phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh, đặc biệt là người có sức đề kháng yếu như: trẻ em, người cao tuổi.

Tùy từng đối tượng, bệnh viêm phổi có thể phát triển với nhiều mức độ khác nhau. Trong đó, tình trạng bệnh thường diễn biến phức tạp hơn ở trẻ em dưới 5 tuổi bởi vì hệ miễn dịch của các bé chưa hoàn thiện và rất dễ bị tấn công. Những người lớn tuổi, nhất là các cụ ngoài 65 tuổi cũng cần được chăm sóc và điều trị cẩn thận, sức khỏe của họ đã suy yếu vì tuổi tác cao.

Bên cạnh người già và trẻ nhỏ, các bệnh nhân có sức khỏe kém, hệ miễn dịch yếu vì mắc các bệnh như: HIV/AIDS không thể chủ quan. Căn bệnh này có thể phát triển mạnh mẽ và đe dọa trực tiếp tới tính mạng của bệnh nhân.

Các bác sĩ cũng lưu ý người có tiền sử mắc bệnh liên quan tới hệ hô hấp như: giãn phế quản hoặc bị cúm, cảm hoặc là người bị nghiện thuốc lá nên quan tâm, chăm sóc sức khỏe. Họ là đối tượng có nguy cơ bị nhiễm trùng đường hô hấp rất cao và bệnh phát triển mạnh nếu không kịp thời điều trị.

3. Bệnh viêm phổi hình thành do những nguyên nhân nào?

Câu hỏi mà khá nhiều người thắc mắc đó là: “Bệnh viêm phổi hình thành từ những nguyên nhân nào?” Thực sự, có khá nhiều tác nhân gây bệnh, để biết cách chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, bạn nên tìm hiểu về các tác nhân này.

Hiện nay, 5 tác nhân chính có thể gây bệnh nhiễm trùng đường hô hấp đó là: các loại virus, vi khuẩn, nấm, một số hóa chất độc hại, ngoài ra bệnh còn là biến chứng do một vài bệnh gây nên.

Bạn nên tìm hiểu và nắm được một số tác nhân chính gây bệnh.

Trong đó, vi sinh vật [gồm vi khuẩn, virus] chính là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh bạn nên chú ý và bảo vệ cơ thể khỏi sự tấn công của chúng nhé! Một số loại vi khuẩn khiến đường hô hấp bị nhiễm trùng đó là: Streptococcus pneumoniae hoặc là Mycoplasma,…

Bên cạnh đó, virus cúm cũng được coi là tác nhân đe dọa nghiêm trọng tới sức khỏe của mỗi người. Đặc biệt, tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp còn là biến chứng bệnh nhân mắc sởi, hen suyễn hoặc ho gà có thể đối mặt nếu không được quan tâm điều trị dứt điểm. Đó là lý do vì sao khi sức khỏe có vấn đề chúng ta nên dành thời gian đi khám và điều trị tích cực. Càng để lâu, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân càng suy giảm, thậm chí tính mạng có thể bị đe dọa.

4. Những triệu chứng đặc trưng của bệnh

Để kịp thời phát hiện vấn đề liên quan tới hệ hô hấp, chúng ta cần nắm được một số triệu chứng đặc trưng của bệnh viêm phổi. Dựa vào tình trạng sức khỏe, mức độ nghiêm trọng của bệnh, các triệu chứng tương đối khác nhau.

Tùy vào mức độ bệnh, bạn sẽ thấy những triệu chứng bệnh khác nhau.

4.1. Triệu chứng thường gặp

Đa số bệnh nhân đều trải qua một số triệu chứng, đó là sốt cao, những cơn ho kéo dài liên tục và kèm theo đờm. Họ rơi vào cảm giác mệt mỏi, cơ thể uể oải và cực kỳ khó chịu vì cơn ho liên tục làm phiền. Khi mắc bệnh, các túi khí ở phổi bị tắc nghẽn khiến bạn thiếu oxy và rất khó thở. Đặc biệt, ở bên phổi bị tổn thương bạn sẽ cảm thấy đau tức ngực.

Như vậy, chúng ta không thể chủ quan trước bất cứ triệu chứng nào, để tình trạng trên được giải quyết, bạn hãy đi kiểm tra và điều trị sớm nhất có thể.

4.2. Triệu chứng của người bệnh nặng

Thực sự, khá nhiều bệnh nhân không may mắc phải bệnh viêm phổi ở mức độ nặng, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân suy giảm cực kỳ nghiêm trọng. Thậm chí, tính mạng của người bệnh có thể bị đe dọa nếu như không được điều trị, xử lý theo phác đồ phù hợp.

Với người bệnh nặng, triệu chứng sẽ là sốt cao 39 - 40 độ, khó thở, nhịp thở nhanh, rút lõm lồng ngực, tức ngực.

Nếu tình trạng bệnh nghiêm trọng, bạn có thể sốt rất cao, cơ thể trở nên tím tái, việc điều trị thăm khám là rất cần thiết

Nếu xuất hiện những triệu chứng trên, bạn hãy nhanh chóng tới cơ sở y tế uy tín để điều trị nhé! Thông thường, các bác sĩ phát hiện tình trạng bệnh của bạn dựa trên hình ảnh X - quang phổi. Nếu như, một hoặc cả hai bên phổi đều mờ, tổn thương nghiêm trọng thì khả năng bạn đang mắc bệnh rất cao.

Như vậy, căn bệnh viêm phổi thực sự nguy hiểm và có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng của bệnh nhân. Mỗi người nên trang bị kiến thức cơ bản để tự chăm sóc cho mình, ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh. Nếu không may nhiễm bệnh, bạn nên đi khám và điều trị theo phác đồ bác sĩ chỉ định.

Video liên quan

Chủ Đề